Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Khởi nghiệp sáng tạo đang rất thuận lợi với IoT

Theo TS Giáp Văn Dương – CEO Học viện Khởi nghiệp Việt Nam, chưa bao giờ khởi nghiệp sáng tạo trên nền công nghệ IoT dễ và thuận lợi như bây giờ. Vấn đề còn lại là các bạn trẻ có khả năng thương mại hóa sản phẩm của mình hay không mà thôi.



TS Giáp Văn Dương - CEO Học viện Khởi nghiệp Việt Nam

Trước làn sóng khởi nghiệp sáng tạo trên nền công nghệ IoT, báo Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi cùng TS Giáp Văn Dương - CEO Học viện Khởi nghiệp Việt Nam xoay quanh vấn đề này.

-Thưa ông, trong thời đại công nghiệp 4.0, IoT sẽ có những tác động như thế nào tới mọi mặt của Việt Nam?

-TS Giáp Văn Dương: IoT là viết tắt của chữ “Internet of things” - kết nối vạn vật với nhau để tạo ra một mạng lưới liên thông, chia sẻ và làm việc cùng nhau. Vấn đề đặt ra: Kết nối để làm gì? Kết nối để tạo ra “một thế giới” chung, nhờ đó mà tạo ra sức mạnh, tạo ra giá trị mới mà khi mỗi người, mỗi vật đứng riêng lẻ không có được.

Bằng chứng của sức mạnh có được nhờ kết nối chính là mạng Internet mà chúng ta đang sử dụng. Khi các máy tính kết nối với nhau để tạo thành mạng Internet thì sức mạnh của một máy tính tăng lên gấp bội nhờ khả năng chia sẻ thông tin giữa chúng.

Giờ đây, một người ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cũng có thể truy nhập được vào kho thông tin và tri thức chung của nhân loại nhờ Internet. Sự ra đời của Internet đã tạo ra nhiều ngành công nghệ và kinh tế mới.

Nhưng sự kết nối thành mạng lưới này sẽ không chỉ dừng ở máy tính, mà còn có thể mở rộng ra vạn vật và cả con người, mà IoT là một xu hướng. Với Việt Nam, IoT lại càng trở nên quan trọng bởi nó còn tương đối mới trên thế giới và Việt Nam có thể nhập cuộc được trong khi Internet và các trào lưu công nghệ trước đó, Việt Nam hoàn toàn ngoài cuộc.

Về tác động, có thể hình dung rằng, IoT sẽ giúp Việt Nam tăng năng suất lao động rất nhanh nhờ tự động hóa sản xuất và quản lý, đặc biệt trong các ngành đặc thù như nông nghiệp và bán lẻ. Vấn đề lớn nhất mà kinh tế Việt Nam phải đương đầu chính là năng suất lao động hiện còn quá thấp, thúc đẩy tăng năng suất lao động chính là chìa khóa để Việt Nam phát triển.

Tuy nhiêu, điều này chỉ có thể xảy ra nếu có một nhóm đủ lớn sẵn sàng dấn thân khởi nghiệp để phát triển sản phẩm, phát triển giải pháp, tìm ra thị trường và thương mại hóa sản phẩm của mình. Nhờ đó mà IoT đi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống.


IoT được ứng dụng trong những thiết bị trong hệ thống Nhà thông minh - Ảnh: Thu Anh

-Theo điều tra của Microsoft, giới trẻ Việt Nam đang rất kỳ vọng IoT sẽ thay đổi tương lai của họ. Quan điểm của ông như thế nào trước suy nghĩ này của các bạn trẻ?

-Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này. IoT sẽ là cuộc chơi mới của giới trẻ. Trong cuộc chơi này, giới trẻ Việt Nam có nhiều cơ hội hơn các cuộc chơi công nghệ trước đó, một phần vì các công nghệ nền tảng đã tạm đủ để triển khai IoT, mặt khác do IoT cũng còn rất mới trên thế giới.

Quan trọng hơn hết, IoT ứng dụng cho rất nhiều hệ thống đặc thù, có tính địa phương như ứng dụng trong nông nghiệp thông minh sẽ cần kiến thức về nông nghiệp, thổ nhưỡng và thời tiết địa phương nên tôi tin một bạn trẻ Việt Nam sẽ làm tốt hơn một bạn trẻ ở Mỹ.

-Theo ông, khi khởi nghiệp sáng tạo trong nền tảng công nghệ IoT, các bạn trẻ thường gặp phải những khó khăn gì và làm thế nào để các bạn trẻ có thể vượt qua được những khó khăn đó?

-Khi khởi nghiệp công nghệ nói chung, các bạn thường gặp nhiều loại rào cản khác nhau. Người xuất thân từ kỹ thuật thì gặp rào cản về quản lý, về bán hàng; người xuất thân từ ngành kinh doanh thì lại gặp rào cản công nghệ; người giỏi một chuyên ngành cụ thể nào đó thì lại không biết thương mại hóa sản phẩm… và khởi nghiệp IoT cũng không ngoại lệ.

Nhưng với sự hỗ trợ của V-SYS logic và phần cứng đi kèm, giờ đây việc lập trình và phát triển các hệ thống IoT trở nên rất đơn giản. Bất cứ người nào cũng có thể học V-SYS trong 1-2 giờ là thành thạo và trợ lý ảo còn giúp cho họ lập trình nhanh hơn. Lúc đó, chỉ cần bạn có ý tưởng, có quy trình, tức biết mình cần phải làm gì và làm thế nào; một bà nội trợ hay một bác nông dân, cũng có thể lập trình cho hệ thống IoT của chính mình.

Tôi cho rằng chưa bao giờ khởi nghiệp sáng tạo trên nền công nghệ IoT lại dễ như bây giờ. Vấn đề còn lại là bạn có khả năng thương mại hóa sản phẩm của bạn hay không mà thôi.


Robot tự sản xuất bằng máy in 3D - Ảnh: Thu Anh

-Trong thời gian tới Việt Nam, TS Timothy Chou có nhận định: "Việt Nam nên đầu tư vào đào tạo kỹ sư phần mềm IoT thay vì đào tạo 1 triệu kỹ sư gia công phần mềm". Quan điểm của ông như thế nào trước nhận định này? Và trong vai trò CEO của Học viện Khởi nghiệp, ông cùng các cộng sự của mình sẽ có những chương trình đào tạo nguồn nhân lực như thế nào cho lĩnh vực IoT?

-Tôi hoàn đồng ý với ý kiến này. Gia công phần mềm là lĩnh vực quá vất vả, lợi nhuận lại rất thấp, rất ít sự sáng tạo. Chỉ có tự phát triển các sản phẩm, các giải pháp công nghệ mới và làm chủ nó thì mới có thể tạo ra giá trị lớn. Trong đó, phát triển các hệ thống IoT là một trường hợp đầy hứa hẹn.

Chính vì thế, Học viện Khởi nghiệp đã chọn IoT là hướng đi chính cho đào tạo công nghệ. Bên cạnh việc đào tạo ra những con người có khả năng làm chủ, thay vì làm công, chúng tôi trang bị công nghệ IoT cho các học viên để họ bước vào thế giới của công nghệ, bước vào công nghiệp 4.0 nhanh nhất và rẻ nhất, cả về thời gian lẫn chi phí.

Với những gì chúng tôi có, cụ thể là ngôn ngữ V-SYS và phần cứng đi kèm, bất cứ một bạn trẻ nào giờ đây, chỉ cần đủ muốn, cũng có thể tự phát triển các hệ thống IoT chỉ sau một khóa học ngắn hạn 2 ngày.

Ngoài ra, chỉ cần người đó có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực mình muốn khởi nghiệp, có quy trình giải quyết vấn đề, hoặc có ý tưởng kinh doanh khả thi, chúng tôi sẽ hỗ trợ và đồng hành cùng người đó.

Khởi nghiệp sáng tạo trên nền công nghệ IoT vì thế, chưa bao giờ thuận lợi như bây giờ.

Thu Anh (thực hiện)
---

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

Bãi bỏ biên chế

Giáp Văn Dương

Năm 2003, tôi là lứa cuối cùng thi công chức và có biên chế trong ngành giáo dục. Lúc đó, tôi mới đi du học về. Vừa trở lại trường thì nhận được tin vui: Chuẩn bị thi công chức để vào biên chế. Đây sẽ là lứa giảng viên cuối cùng có biên chế của nhà trường, còn sau ngày 1/7/2003, giảng viên chỉ có hợp đồng làm việc dài hạn.
Khỏi phải nói là tôi và bạn vui như thế nào. Cảm giác mình là người may mắn. Mấy bạn lứa sau có chút ghen tỵ và thoáng chút buồn. Các thầy quản lý, tuy ngoài miệng vẫn nói hợp đồng làm việc dài hạn và biên chế là như nhau, không có phân biệt gì. Nhưng khi riêng tư, dường như các thầy cũng chia vui cùng chúng tôi. 

Lý do, có lẽ lúc đó các thầy cũng chưa biết khi bỏ biên chế để thay bằng hợp đồng làm việc thì mọi chuyện sẽ ra sao. Có biên chế trong tay, cứ đến ngày đến tháng là lương nhà nước chảy về, chỉ việc ra lĩnh. Nay thay bằng hợp đồng hình như trường phải tự lo? Thời điểm năm 2003 đó, mọi chuyện còn rất mù mờ. 

Rồi tôi cũng đi thi. Và rốt cuộc tôi cũng đỗ. Cầm quyết định trong tay mà thấy rộn ràng. Cảm giác một cái gì đó chắc chắn, một cái gì đó ổn định ùa đến. Có biên chế, nghĩa là có công ăn việc làm ổn định, nghĩa là có hộ khẩu, nghĩa là chính thức trở thành giảng viên một đại học lớn. Lúc đó lại đã lập gia đình và có con đầu lòng. Cơ sở hạ tầng coi như xong. Giờ chỉ cần tập trung vào công việc là cuộc đời sẽ ổn. 

Biên chế đối với tôi lúc đó thực sự là một cái gì đó rất ý nghĩa. Nhưng ý nghĩa của biên chế không chỉ như vậy. Chỉ 6 tháng sau tôi lại khám phá ra một ý nghĩa khác hẳn. Không phải là sự ổn định an toàn, mà là sự phiền phức quá mức cần thiết. Nếu lần đi du học trước, tôi chỉ có hợp đồng làm việc với nhà trường, việc xin đi du học khá dễ dàng. Thì lần này, vì là người nhà nước, vì có biên chế, nên việc đi học hóa ra vô cùng phức tạp. 

Cơ quan quản lý tôi bây giờ không phải là nhà trường nơi tôi làm việc, mà là Vụ tổ chức cán bộ của Bộ giáo dục. Muốn đi học, phải được vụ này duyệt trước, rồi sau đó trình lên lấy chữ ký của thứ trưởng. Trước đó, để hồ sơ ra được khỏi trường, tôi phải có được 6 chữ ký của quản lý các cấp tại trường. Sau đó lại phải có được 2 chữ ký ở trên Bộ nữa. 

Hành trình đó, ai trải qua mới biết nó là gì. Tờ đơn xin đi học của tôi vì thế đỏ rực chữ ký và các con dấu. Tôi ở Hà Nội còn đỡ, chứ lên bộ, thấy các anh chị ở Miền Trung, Miền Nam ra ăn trực nằm chờ rất tội. Ngày nhập học đã đến gần, mà vẫn chưa được ký, quyết định không biết khi nào mới có. Nhiều người đành chọn nước đánh liều đi trước cho kịp lịch, còn hồ sơ ở nhà làm sau. Có khi đi học được nửa năm thì quyết định cử đi học mới về tới trường. 


Rồi khi đi học cũng chưa thoát khỏi sự phiền phức của biên chế. Học bổng thì trường cấp năm một tùy theo kết quả học tập, nên mỗi năm lại phải về nhà gia hạn một lần. Lại hành trình xin 8 chữ ký và ngần đó thủ tục phải đi qua. Vừa xong thủ tục năm nay được vài tháng, chưa kịp làm gì thì lại phải nghĩ đến chuyện xin gia hạn cho năm sau nữa. Nói chung là mệt.

Lúc đó tôi chỉ ước sao mình chưa vào biên chế cho đỡ vất vả. Khi nào học xong thì thi tuyển vào trường lại từ đầu. 

Rồi việc học cũng xong. Nhưng câu chuyện về biên chế lại một lần nữa xuất hiện khi tôi phải đưa ra lựa chọn: Tiếp tục làm giảng viên đại học, hay phưu lưu cùng những dự định của riêng mình? 

Tôi đã chọn phưu lưu cùng những dự định của riêng mình, một phần vì cơm áo gạo tiền, nhưng phần quan trọng hơn vì những câu hỏi tôi của tôi đến lúc đó vẫn chưa có lời giải đáp. Những câu hỏi đó thoạt nghe rất đơn giản, như “Tôi là ai? Học để làm gì? Ý nghĩa cuộc sống là gì?” hóa ra cần rất nhiều thời gian để trả lời. Nhiều hơn rất nhiều so với những câu hỏi về chuyên môn. Lúc đó, tôi thậm chí còn chưa biết khi nào mới trả lời được. 

Nhưng phải thú thật, khi rời trường, ngoài thầy cô bạn bè thì một trong những điều tôi tiếc chính là biên chế. Lúc đó, tôi có 8-9 năm đóng bảo hiểm xã hội. Học hành cũng đã xong xuôi. Vậy mà chọn từ bỏ để đi một con đường khác, quả thật không dễ. 

Sau này nhìn lại, tôi phát hiện ra rằng, việc bỏ biên chế khó vì biên chế không nằm trên một tờ giấy, mà biên chế nằm ở trong đầu. Bỏ biên chế tức là bỏ quan niệm có một công việc ổn định suốt đời ở trong đầu mình. Cái cảm giác ổn định, yên tâm lại có phần quan trọng vì là người nhà nước đó nó rất quyến rũ. Vì thế mà bỏ nó vô cùng khó. 

Chính vì đã đi qua những cung bậc này rồi, nên tôi rất thông cảm với những người phải đối mặt với việc có nên bỏ biên chế hay không? Đặc biệt là những người đã có chút thâm niên, hoặc những người thích một cuộc sống ổn định. Nhưng cũng nhờ bước ngoặt này mà tôi bước ra một đời sống mới, sôi động và tràn đầy sức sống. 

Vì thế, khi thấy những bạn trẻ, học xong chỉ nhăm nhắm chạy vào nhà nước bằng mọi giá, thì tôi lại cảm thấy rất thương. Cuộc sống sôi động là thế, nhiều thử thách là thế, mà cũng nhiều cơ hội là thế, mà lại không khám phá. Nếu chọn vào nhà nước để cống hiến thì không nói làm gì. Nhưng nếu chỉ để có được sự yên ổn thì quả thực sai lầm. 

Chui vào nơi ổn định không có cạnh tranh là cách nhanh nhất để thui chột chính mình. Mà lương nhà nước theo thang bậc thì bao giờ cũng thấp. Nếu cứ thẳng ngay thì không biết sống thế nào. Mà xoay xở thì có khi soi gương lại thấy xấu hổ. Chưa kể bộ máy ăn lương ngân sách đã quá lớn, mỗi ngày lại mỗi phình to, nay đã lên đến 11 triệu người, đang quá ngưỡng chịu đựng, thì ra ngoài làm việc để không ăn lương ngân sách cũng đã là đóng góp cho đất nước. 

Có lần, một bạn trẻ hỏi tôi, vì sao người ta nói ở nước ta có một nghịch lý: Ai cũng có việc nhưng không ai làm việc, không ai làm việc nhưng ai cũng có lương; ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống; không ai đủ sống nhưng ai cũng sống; ai cũng sống nhưng không ai hài lòng; không ai hài lòng nhưng ai cũng giơ tay đồng ý? 

Tôi trả lời vắn tắt: Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc là vì biên chế. Không làm việc nhưng vẫn có lương cũng là vì biên chế. Lương không đủ sống vì không ai làm việc nên năng suất lao động thấp, biên chế lại ăn lương ngân sách, ngân sách chỉ có vậy, nên lương chỉ có vậy. Lương chỉ có vậy nên chỉ làm như vậy, tất nhiên sẽ không ai hài lòng. Không hài lòng nhưng vẫn phải đồng ý vì nếu không sẽ mất biên chế. Thế là chẵn một vòng tròn luẩn quẩn khép kín. 

Tôi cũng nói thêm với các bạn rằng, mấu chốt của một nghề nghiệp có ý nghĩa là người làm việc phải sống được bằng lương và phải cảm thấy tự hào về nghề nghiệp của mình. Nhưng với thang bậc lương từ ngân sách như hiện nay, không ai sống được bằng lương, nên để có thêm thu nhập thì phải “chân trong chân ngoài”, phải “vẽ thêm việc”, phải “cấu véo”, phải “hành là chính . Trong hoàn cảnh đó người ta rất dễ đánh mất mình, đánh mất lòng tự trọng. Cái dở nhất của biên chế không chỉ làm cho người ta sống dở chết dở với mức lương còm cõi, mà còn là sản sinh ra rất nhiều người không có lòng tự trọng. 

Chính vì thế, tôi luôn khuyến khích những bạn trẻ hay đi ra bên ngoài làm việc, vào khu vực tư nhân, vào khu vực nước ngoài, hoặc tự khởi nghiệp, để giảm sức nặng cho ngân sách nhà nước, để có cạnh tranh, để đối mặt với thử thách. Nơi nào có thử thách, nơi đó có cơ hội. Thử thách càng lớn, cơ hội càng cao. 

Tôi thậm chí thi thoảng còn bông đùa: Với các bạn có năng lực, chạy được vào nhà nước chỉ để yên ổn cho đến ngày nhận sổ hưu thì chưa chắc đã là thành công. Có thể, đó lại là thất bại lớn nhất của cuộc đời các bạn. 

Đó là lý do vì sao tôi luôn ủng hộ việc bãi bỏ biên chế, bãi bỏ chế độ làm việc không thời hạn ở khu vực công, để chuyển qua chế độ hợp đồng nhằm tăng sức cạnh tranh, ở tất cả các ngành nghề. 

Tôi quan sát thấy, trên thực tế, với mỗi quốc gia, chỉ cần rất ít những người có biên chế trọn đời. Đó là ai? Đó là những Thẩm phán của Tòa án Tối cao, những người cần được tránh mọi sức ép từ bên ngoài, trong đó có sức ép về việc làm, để giữ được tiếng nói độc lập trong việc bảo vệ công lý, thẩm định các đạo luật... 

Nhóm này thường không đến mười người. Ngoài ra, ở một số nước, các giáo sư đại học rất giỏi cũng thường có biên chế, nhưng đó là biên chế với nhà trường. Mục đích là để họ tránh sức ép mất việc mà bảo vệ tự do học thuật. Nhưng bảo vệ học thuật ở Việt Nam là chuyện xa xỉ. Mà thời đại này, nếu đã là giáo sư rất giỏi, thì cơ hội làm việc hóa ra lại rất nhiều. 

Thành ra, nếu đi đến tận cùng, thì số người cần biên chế của một nước chỉ chưa đến mươi người. Còn lại có thể chuyển sang làm việc ở chế độ hợp đồng hết. Ngay cả nguyên thủ và các bộ trưởng làm việc cũng có nhiệm kỳ, tức cũng là một dạng hợp đồng. Chỉ khi nào làm được như thế, sức sống của sự cạnh tranh mới thắng được sự ù lì vì tâm lý thích ổn định. 

Nếu làm được việc đó, gỡ bỏ biên chế và chế độ làm việc trọn đời ở tất cả các ngành nghề và cấp bậc, thì Việt Nam không chỉ giảm tải gánh nặng ngân sách, tức giảm tải cho dân đóng thuế, mà còn nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 

Ngoài ra, việc bãi bỏ biên chế này còn giải quyết được một vấn đề rất đặc thù khác của Việt Nam. Đó là những quan chức có năng lực yếu kém, nhưng vì có biên chế nên không thể đuổi việc, vì người sử dụng lao động, người quản lý lao động và người trả lương là khác nhau. Do đó, chỉ có thể sắp xếp lại và luân chuyển. Mà đã luân chuyển thì người ta có nhiều quy trình mẹo mực để chỉ chuyển ngang, hoặc chuyển lên, chứ ít ai chịu chuyển xuống. Còn nếu không chuyển được thì đành phải dồn vào một chỗ để chờ ngày nhận sổ hưu. Thế là tạo ra một vòng luẩn quẩn, một bộ máy nhân sự kém chất lượng tù đọng không thể thanh lọc.

Chưa kể, trước khi về hưu, mỗi quan chức lại tranh thủ bổ nhiệm họ hàng tay chân phe cánh như báo chí đã nêu, tạo ra một ma trận nhân sự yếu kém giằng díu lẫn nhau, tồn đọng từ đời lãnh đạo này sang đời lãnh đạo khác. Người lên sau không thể gỡ bỏ, vì họ đều đã vào biên chế. Vì thế, nếu bãi bỏ biên chế thì vấn đề tưởng chừng không thể gỡ được này, bỗng nhiên lại có thể gỡ được. 

Năng suất lao động của Việt Nam hiện rất thấp, chỉ bằng ¼ Malaysia, 1/15 của Singapore. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng có một nguyên nhân quan trọng, là vì hiện có quá nhiều người ăn lương ngân sách, quá nhiều người bám vào biên chế, chấp nhận mức lương èo uột không đủ sống, và coi điều đó như một sự thành công. Nếu không thay đổi thì tình hình sẽ ngày càng ảm đạm khi ngân sách càng ngày càng cạn kiệt. 

Do đó, nếu dũng cảm xóa bỏ biên chế ở tất cả các ngành nghề và cấp bậc, thì bài toán bùng nhùng “khi nào sống được bằng lương” và “năng suất lao động quá thấp” bỗng nhiên có lời giải.
---

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Cà phê Thứ Bẩy: Tôi là ai?

Chủ đề: “TÔI LÀ AI?”
Diễn giả: Giáp Văn Dương
Chủ trì: Nguyễn Quang Dy

Lời dẫn

Khi bạn không biết học để làm gì thì học trường nào mà chẳng được!

Khi bạn không biết sống để làm gì thì sống thế nào mà chẳng xong!

Trên hành trình của đời mình, nếu bạn không trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” thì bạn đang giống như người lữ hành vừa không biết đích đến, lại vừa không biết được vị trí hiện thời của mình. Khi đó, mọi cố gắng của bạn sẽ trở nên vô nghĩa.

Vì thế, trả lời được những câu hỏi nhân sinh cơ bản, như: “Tôi là ai? Người tôi muốn trở thành là gì? Ta sẽ làm gì với cuộc đời mình?…” lại trở thành điều quan trọng nhất để có thể sống một cuộc đời hạnh phúc, thành công và có ý nghĩa.

Trong khuôn khổ của buổi Cà phê Gặp gỡ & Đối thoại này, diễn giả sẽ cùng chúng ta bước đi những bước đầu tiên để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?” này.

---
Thời gian: 14h30 chiều thứ bảy, 03/06/2017

Địa điểm: số 3A Ngô Quyền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội,

Chương trình:
+ 14h30-15h00: Cà phê, gặp gỡ, làm quen.
+ 15h00-16h00: Phần trình bày của diễn giả.
+ 16h0-17h0: Trao đổi giữa diễn giả và khách mời

Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

Triết lý giáo dục cho thời đại mới

Giáp Văn Dương

Triết lý giáo dục là gì mà suốt mấy chục năm nay, lúc nào cũng như đống lửa âm ỉ, chỉ chờ gặp gió là bùng lên. Mà ngọn gió đó có thể là bất cứ một thứ gì liên quan đến giáo dục. Lần này thì đó là Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông Tổng thể mà Bộ giáo dục đang đưa ra để lấy ý kiến. 

Một cách ngắn ngọn, triết lý giáo dục là một phát biểu ở tầm tư tưởng, nhưng cô đọng súc tích, thường chỉ trong một câu, để ai cũng thấu hiểu và thực hiện được. Nhờ đó, triết lý giáo dục trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động dạy và học, và rộng hơn là mọi hoạt động liên quan phát triển con người. 

Triết lý giáo dục vì thế không nằm ở đâu xa, mà ở ngay ở sản phẩm đầu ra của hệ thống giáo dục, tức ở những con người mà hệ thống giáo dục đó tạo ra. Nói cách khác, triết lý giáo dục sẽ được tìm thấy trong việc trả lời câu hỏi mấu chốt nhất: Hệ thống giáo dục hướng đến việc đào tạo con người nào?

Một hành trình không có đích đến sẽ quẩn quanh mất phương hướng. Một hệ thống không có mục tiêu tường minh về đầu ra sẽ hỗn loạn không thể vận hành. 

Vì tầm quan trọng như thế, triết lý giáo dục không chỉ là tư tưởng định hướng, mà còn là hồn cốt thần sắc của cả hệ thống giáo dục đó. Dựa vào triết lý giáo dục mà toàn bộ hệt thống giáo dục cũng như các hoạt động của nó được thiết kế, vận hành và điều chỉnh. 

Vì là hồn cốt thần sắc, triết lý giáo dục sẽ tự động hiện ra cho tất cả những người liên quan thấy. Khi đó, chúng ta sẽ thấy được triết lý giáo dục, cảm được triết lý giáo dục, thấu hiểu được triết lý giáo dục ở mức rất tinh tế sâu xa, từ học sinh đến giáo viên, đến các bậc phụ huynh trong nhà, chứ không phải chỉ các chuyên gia mới hiểu được. 

Nói cách khác, khi đã có triết lý giáo dục nó sẽ hiện ra một cách rất tự nhiên, và hiện hữu trong mọi hoạt động liên quan đến giáo dục theo cách nhất quán. Tự nhiên và nhất quán, như hơi thở, trong mọi hoạt động của hệ thống giáo dục. 

Như vậy nếu đã là triết lý giáo dục thì từ học sinh đến giáo viên, từ ông bố bà mẹ trong nhà đến nhà chuyên môn ở trong việc nghiên cứu, đều phải thấm nhuần và thấu hiểu theo cùng một cách. Triết lý giáo dục khi đó sẽ hiện diễn như là chuyện thường ngày trong sinh hoạt chuyên môn ở nhà trường và bữa tối trong gia đình. 

Nếu không phải là như thế, thì những phát biểu hoặc nghiên cứu nào đó về giáo dục, dù công phu tỉ mỉ bao nhiêu đi chăng nữa, cũng không phải là triết lý giáo dục, mà là triết học về giáo dục, hoặc những nghiên cứu chuyên ngành giáo dục học. 

Để được như vậy, triết lý giáo dục đòi hỏi phải được phát biểu tường minh và thuyết phục từ chính Bộ giáo dục. Nếu không, nó sẽ không có được tính chính danh để trở thành tư tưởng điều hành chung cho cả hệ thống. Triết lý giáo dục khi đó sẽ trở thành triết lý chui. Ai cũng cảm nhận được, nhưng không ai có thể gọi tên hoặc dám gọi tên. 

Giờ nhìn lại lịch sử giáo dục Việt Nam ta thấy, trong nền giáo dục Nho giáo, triết lý giáo dục được gói gọn trong một hình dung rất rõ ràng về sản phẩm đầu ra, đó là: Đào tạo người quân tử để làm quan. Chính nhờ triết lý này mà hệ thống giáo dục Nho giáo tồn tại được hơn hai nghìn năm. Chỉ đến khi hình mẫu về người quân tử, tức sản phẩm đầu ra của hệ thống này, không còn phù hợp với thời đại mới, thì hệ thống giáo dục này mới sụp đổ. 

Nhưng kể từ ngày giành độc lập năm 1945 đến giờ, triết lý giáo dục của Việt Nam lại chưa bao giờ được phát biểu tường minh và súc tích như thế trong cách lần cải cách giáo duc, ngoại trừ một phát biểu chính thức trước đây và vẫn còn phảng phất đâu đâu: Đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng con người mới xã hội chủ nghĩa là con người nào thì không ai biết, vì "đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa".

Câu chuyện về triết lý giáo dục vì thế rơi vào bất định. Phát biểu chính thức gần đây nhất là vào tháng 4/2017 của cựu Bộ trưởng Bộ giáo dục Phạm Vũ Luận: Triết lý giáo dục của Việt Nam là Nghị quyết 29 của Trung ương. Nghị quyết này dài hơn 7000 từ. 

Nhưng Nghị quyết 29 là gì, nội dung của nó ra sao, các học sinh không biết, bác bảo vệ không biết, thầy cô đa phần không biết, các phụ huynh cũng không biết nốt. Nghị quyết 29, dù nội dung của nó hay như thế nào đi chăng nữa, nhưng với hình thức dài dòng như thế, không có cách nào đi vào phòng học và bữa cơm tối của các gia đình để hiện hữu một cách tường minh, nhất quán và tự nhiên như hơi thở. 

Nghị quyết 29 vì thế, nếu chỉ xét về mặt hình thức, không thể nào là một triết lý giáo dục, theo cách hiểu đó phải là một phát biểu ngắn gọn trong một câu nhưng lại mang tầm vóc của một tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt cho sự vận hành của một hệ thống giáo dục. 

Không hài lòng với việc cho rằng triết lý giáo dục của chúng ta là Nghị quyết 29, ngay sau đó tôi đã viết một bài báo có nhan đề “Gọi tên triết lý giáo dục”. Bài báo đó được viết dựa trên những phân tích và trải nghiệm của cá nhân tôi để đi đến một kết luận rằng: Nền giáo dục hiện thời có triết lý giáo dục chứ không phải là không có. Tuy rằng, nó chưa bao giờ được phát biểu tường minh. Vậy triết lý giáo dục đó là gì? Đó chính là: Đào tạo con người công cụ.

Đọc đến đây, bạn đừng cảm thấy bất ngờ hay bực mình vì nhận định quá ư phũ phàng này. Hãy chùng lại và dành một phút để ngẫm về toàn bộ chặng đường giáo dục mình đã đi qua, bạn sẽ thấy mình đã và đang được tạo ra như một con người công cụ, nhằm đáp ứng một nhu cầu, phục vụ một hệ thống và một mục tiêu định trước. 

Trong suốt cuộc đời đi học của mình, chúng ta luôn được dạy theo cách hiểu, biết và hành xử trong một khuôn mẫu định sẵn. Khác đi là không được. Khác đi là phải trả giá. Dù luôn kêu gào sáng tạo, không sáng tạo là chết, nhưng bạn hãy thử sáng tạo trong cách học, cách thi, cách hiểu, cách diễn giải thử xem, bạn sẽ phải trả giá ngay tức khác. Lúc học thì tất cả đều phải nằm trong khuôn khổ của sách giáo khoa và sách giáo viên, trong những khuôn mẫu đã định sẵn. Lúc thi thì phải nhuẫn nhuyễn đề cương, vào phòng thi chỉ giống như chép lại bài đã học lòng. Lệch tủ là chết. Lỡ quên là không biết xoay sở ra sao. 

Chiến tranh liên miên trong mấy chục năm gần đây, nơi sự tuân thủ được đặt lên hàng đầu, là môi trường thuận lợi để con người công cụ phát huy tác dụng. Điều này làm cho việc đào tạo con người công cụ có vẻ hợp lý và được việc mà không hề bị chất vấn đến nơi đến chốn. Nền văn hóa truyền thống đề cao trật tự và sự tuân thủ một chiều cũng góp phần làm cho vấn đề trở nên trầm trọng.

Nhưng nay trước thách thức phải đổi mới, đặc biệt khi cách mạng công nghiệp 4.0 đang sầm sập tới, việc đào tạo con người công cụ phải bị chất vấn và loại bỏ. Nếu không, những học sinh của chúng ta sau 10-20 năm nữa, khi ra trường sẽ phải cạnh tranh nổi với các rô-bốt và trí tuệ nhân tạo. Phần thua của những con người công cụ sẽ là cầm chắc trong tay. Vì sao? Vì với tốc độ phát triển của công nghệ hiện giờ, cạnh tranh làm công cụ với máy móc thì không có cách nào có thể thắng được. 

Những ngành nghề thâm dụng lao động không còn. Những dây chuyền tự động hóa chạy bằng cơm lúc đó cũng biến mất. Trong nhà máy, các cánh ray rô-bốt sẽ đảm nhiệm phần lớn công việc. Ô tô có thể tự lái. Máy tính tự học. Những con ngươi công cụ không có khả năng sáng tạo, chỉ biết dập khuôn trong những điều đã được dạy, những điều lạc hậu ngay trong lúc mình được dạy, sẽ phải làm gì trong hoàn cảnh đó? Và ai sẽ chịu trách nhiệm trước hiện trạng đó, nếu không phải là những người đang giữ quyền ban ra các quyết sách hiện thời?

Vậy nên, trước khi thực hiện bất cứ một cuộc cải cách giáo dục nào, hãy một lần sòng phẳng nhìn thẳng vào triết lý giáo dục để gọi đúng tên và chất vấn sự đúng đắn của nó, để từ đó lựa chọn một triết lý giáo dục mới, phù hợp hơn cho thời đại mới. 

Những quan sát, nghiên cứu và trải nghiệm của cá nhân tôi cho thấy, dù chưa bao giờ được phát biểu tường minh, thì triết lý giáo dục của hệ thống giáo dục hiện thời là đào tạo con người công cụ. Tinh thần này luôn hiển hiện ra như một tư tưởng ngầm nhưng giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động dạy và học của hệ thống giáo dục hiện thời.

Nay tình thế đã thay đổi. Con người công cụ không còn đất sống trong thời đại công nghiệp 4.0 đang ập đến. Chỉ có những con người tự do, những con người sáng tạo, những con người có khả năng tạo ra nhu cầu thay vì đáp ứng nhu cầu, mới có khả năng tự làm chủ và tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, và đo đó mới có thể tồn tại trong thời đại mới. 

Muốn thế, thay vì đào tạo con người công cụ, nến giáo dục phải chuyển hướng sang đào tạo con người tự do. Khi đó, con người sáng tạo, con người làm chủ sẽ tự nhiên xuất hiện. 

Vì lẽ đó, triết lý giáo dục của thời đại mới sẽ được phát biểu trong một câu ngắn gọn: Con người tự do là đích đến của giáo dục. 

Chừng nào chưa đạt được điều đó thì cải cách giáo dục còn rơi vào bế tắc. 
---


Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

Lương tâm và luật pháp

Giáp Văn Dương

Tôi là một phụ huynh có ba con nhỏ đang đi học. Việc này cũng chẳng có gì khác biệt với các phụ huynh khác. Nếu có khác thì đó là con tôi hay hỏi những câu trái khoáy, như con không muốn thế, nhưng quy định phải thế, thì con chọn cái nào? Và tôi, thay vì lảng tránh những câu hỏi oái oăm này, lại thường chọn cách phân tích rốt ráo cho con hiểu và để con đưa ra lựa chọn. Vì tôi cho rằng, sau khi đã hiểu thì phải chọn, đó là lựa chọn cá nhân, tôi không can thiệp. Nhưng trước khi chọn thì phải hiểu, vì một lựa chọn chỉ thực sự là một lựa chọn ở trong tự do và sau khi suy xét.

Trở lại câu chuyện của con tôi: Con không muốn thế, nhưng quy định phải thế, thực ra là một câu hỏi hóc búa. Con không muốn thế, tức con đã cảm thấy có gì đó không ổn, thấy có gì đó không đúng ở chỗ này, con không muốn tuân thủ. Cái đó là tiếng nói từ bên trong, thuộc về tự do cá nhân, thuộc về lương tâm. Còn quy định phải thế lại thuộc về ràng buộc, thuộc về luật pháp. Câu hỏi của con tôi, thực chất là câu hỏi: Giữa lương tâm và luật pháp, con nên chọn bên nào? Đây là câu hỏi lớn, không chỉ với trẻ con, mà với cả những nhà làm luật. Nhưng không vì thế mà né tránh không trả lời.

Muốn trả lời câu hỏi này, thì phải trả lời câu hỏi trước đó: Lương tâm và luật pháp đến từ đâu? Nói cách khác, phải thấu hiểu bản chất của lương tâm và luật pháp thì mới có thể đưa ra lựa chọn. 
Ngoài ra, tưởng chừng không liên quan, mà hóa ra lại rất liên quan, là trong các lựa chọn đó, cần phải trả lời một câu hỏi cốt yếu khác. Đó là: “Tôi là ai?” trong tình huống mà tôi đang đối mặt đó. Trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” này thì sẽ đưa ra được lựa chọn tương ứng. Nếu không, sẽ ra thành chuyện râu ông nọ cắm cằm bà kia, tưởng đúng, tưởng hơp logic, mà hóa ra lại sai, vì sai ngay từ đầu, từ cái “Tôi là ai?” này. 
Trở lại với lương tâm, câu hỏi đặt ra là: Lương tâm bắt nguồn từ đâu?

Câu hỏi này vừa to vừa khó. To vì ngoài nó ra có còn mấy vấn đề nhân sinh to hơn nó nữa đâu. Khó vì nó không định lượng được, nên chỉ có thể cảm nhận bởi người trong cuộc. Tuy không không cân đo đong đếm được, như khi đánh mất lương tâm, ta sẽ cảm nhận được ngay tức thì, vì nó chính là ta. Nó là cho ta trở thành một con người. Mất nó, ta không còn là ta nữa, nên ta nhận ra gay tắp lự. 

Tạm bỏ qua những lý luận dài dòng, ta đi thẳng vào vấn đề để trả lời một cách ngắn gọn: Lương tâm bắt nguồn từ tự do nội tại của mỗi người. Không có tự do sẽ không có lương tâm. Nhờ có tự do đó, thể hiện trước hết ở tự do nội tại ở trong sâu thẳm, mà mỗi người có được quyền lựa chọn làm và sống với những điều họ cho là thiện hảo, đúng thật. Nếu không làm vậy, họ sẽ bị dằn vặt, bị lương tâm cắn rứt. Vì sao? Vì lương tâm chính là mình, lương tâm tạo ra mình với tư cách một con người. Không có nó, mình không còn là mình, mình cũng không còn là người, nên bị dằn vặt và cắn rứt. 
Nhưng điều mà mỗi người cho là thiện hảo đúng thật đó lại thuộc về chủ quan của mỗi người. Điều thiện hảo đúng thật của anh khác của tôi. Và vì là chủ quan nên người ngoài không thể truy nhập được. Nhưng người trong cuộc thì biết và cảm nhận rất rõ. 

Vậy nên, cái gì đã thuộc về lương tâm thì hãy để mỗi cá nhân tự quyết định. Đó là tự do cá nhân, không thể ép buộc. Nếu ép buộc họ phải làm trái với điều mà họ cho là thiện hảo đúng thật đích thị là đang bắt họ làm những việc trái với lương tâm. Điều này, chắc không ai muốn. 

Theo cách nhìn đó, lương tâm là cội nguồn của đạo đức. Trong mối quan hệ với luật pháp thì lương tâm là cơ sở của luật pháp. Tuy nhiên, lương tâm không phải lúc nào cũng trùng khít với luật pháp. Lý do là lương tâm của một người là vấn đề thuộc về chủ quan của người đó, không có lương tâm chung cho tất cả mọi người. Cái ta gọi là lương tâm chung của mọi ngươi đó, trên thực tế là một thứ khác, đó là luân thường đạo lý. Luân thường đạo lý cũng giống như đạo đức, bắt nguồn từ lương tâm nhưng không phải là lương tâm. Vì thế, lương tâm của ai thì chỉ người đó mới cảm nhận được. Đó là vấn đề chủ quan. Còn luật pháp là vấn đề khách quan, có được thông qua đồng thuận. Vì thế, với luật pháp, tất cả mọi người điều phải hiểu, và lý tưởng nhất là phải hiểu giống nhau, và phải tuân thủ. 

Vì luật pháp có được thông qua đồng thuận, nên vấn đề của luật pháp là kkhông bao giờ có được sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả mọi người. Con người vốn dĩ khác nhau, cùng một vấn đề thì trăm người trăm ý. Ngay cả khi có sự đồng thuận của đa số thì vẫn còn một nhóm nhỏ không đồng thuận. 
Cho nên, dù đã thành luật, thì luật đó lý tưởng nhất cũng chỉ là kết quả của sự động thuận của đa số, mà sự đồng thuận đó cũng chỉ có được gián tiếp thông quan người đại diện của họ. Rất phổ biến là ý kiến của người đại diện không phải là ý kiến của người dân mà họ đại diện cho. Trong trường hợp đó, dù luật có được được quốc hội thông qua đi chăng nũa, thì luật đó cũng chỉ là luật của một thiểu số, không phải là luật của đa số người dân. 

Chưa kể, bản thân luật pháp bao giờ cũng mang trong mình sự thiên vị có tính cách nội tại. Đó là sự thiên vị không thể tránh khỏi mà ở đó, quyền lợi của nhóm người làm ra luật sẽ được ưu tiên hơn so với quyền lợi của số đông còn lại. Đó là bản chất của nhận thức và của con người. Con người luôn có xu hướng ưu tiên cho quyền lợi của chính mình hơn cho quyền lợi của kẻ khác. Vậy nên, nếu tôi là người làm luật, thì luật đó sẽ phù hợp với tôi hơn là lẽ đương nhiên. Đó là lý do vì sao mà cùng một dự thảo luật, mà nhóm này đồng ý thông qua, còn nhóm khác lại nhất định chống. Mà kể cả khi đã thông qua thành luật rồi, khi nhóm khác lên nắm quyền, thì có thể họ lại tìm cách bãi bỏ dự luật đã thông qua đó. Chuyện này xảy ra khắp nơi trên thế giới. Thiết nghĩ, không cần phải bàn thêm. 

Câu hỏi đặt ra: Nếu có xung đột giữa lương tâm và luật pháp, thì ta nên chọn bên nào? 

Nếu là tôi, tôi sẽ chọn lương tâm thay vì luật pháp. Luật pháp có thể thay đổi, luật pháp mang trong mình sự thiên vị nội tại, nhưng lương tâm thì không. 

Lý luận là thế. Nhưng lý luận chỉ là lý luận, nếu không với đến được thực tế thì cũng chỉ để giải trí. Thực tế là gì, thực tế ở đây là một chủ đề nóng hổi đang diễn ra trong nghị trường: Luật sư có nên tố cáo thân chủ của mình hay không, trong trường hợp luật sư đó biết thân chủ của mình phạm tội xâm phạm anh ninh quốc gia, hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng? Nói thế cho đầy đủ bối cảnh của vấn đề, thay vì chỉ nói là phạm tội chung chung. 

Theo quy trình tố tụng, khi luật sư đã nhận lời tham gia bào chữa cho thân chủ của mình, thì thân chủ của luật sư đã bị tạm giam hoặc bị truy tố. Khi đó, hẳn các cơ quan tố tụng đã có bằng chứng về sự phạm tội của đương sự, nên không cần luật sư tố cáo nữa.

Còn nếu một luật sư biết một người nào đó phạm tội trước khi tham gia nhận lời bào chữa cho người đó, thì khi đó người luật sư chỉ là một công dân như bao công dân khác nên có quyền và trách nhiệm tố cáo theo luật định. Nhưng đó chỉ là sự tố cáo của một công dân bình thường, đã được quy định bởi pháp luật, chứ không phải với tư cách một luật sư bào chữa.

Trong cả hai trường hợp trên, luật pháp đều không cần đến sự tố cáo với tư cách luật sư mà vẫn có thể vận hành hiệu quả đúng như dự định. Thêm điều khoản luật sư tố cáo thân chủ này vào chỉ làm cho luật pháp thêm rối, lại ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của người luật sư, vì thế làm cho luật pháp trở nên kém hiệu quả. 

Vấn đề sẽ trở nên khó xử hơn trong một trường hợp khác, khi người luật sư đã ký hợp đồng tư vấn pháp lý với thân chủ của mình, thì biết thân chủ đã phạm tội, hoặc có ý định phạm tội. Trong trường hợp này, người luật sư đó có nên tố cáo thân chủ của mình hay không? 

Câu trả lời trong trường hợp này lại không đến từ vai trò luật sư, mà đến từ việc trả lời câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống tôi đang đối mặt này?”. Người luật sư sẽ chỉ được quyền chọn một trong hai câu trả lời: Tôi là một luật sư, hoặc tôi là một công dân. Không thể đánh đồng hai vai trò này trong một tình huống cụ thể đang nói đến, vì chúng xung đột với nhau.

Nếu anh chọn là luật sư, thì anh không nên tố cáo thân chủ của mình. Như thế là vi phạm hợp đồng dân sự anh đã ký kết, lại trái với đạo đức nghề nghiệp của người luật sư. Trong trường hợp anh thấy tội của thân chủ quá nghiêm trọng, bắt buộc phải tố cáo nếu không thì lương tâm cắn rứt, thì anh phải từ bỏ vai trò luật sư để trở thành một công dân bình thường, và thực hiện việc tố cáo đó với tư cách một công dân chứ không phải với tư cách một luật sư. 

Tuy nhiên, khi làm vậy, anh phải lường trước cái giá phải trả cho sự bất tín của mình với tư cách luật sư đối với thân chủ hiện thời và với các thân chủ tiềm năng khác. Có thể từ đó về sau sẽ không còn ai ký hợp đồng tư vấn pháp lý với anh nữa. Nhưng bù lại, anh có được sự thanh thản lương tâm, vì anh thấy việc tố cáo đó là một điều thiện hảo đúng thật, anh cần phải thực hiện. Anh phải cân nhắc giữa cái giá phải trả và lợi ích mà anh thu được, trong sự soi rọi của lương tâm, rồi anh mới quyết định. Nhưng dứt khoát anh chỉ được chọn một câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống tôi đang đối mặt này?”: hoặc là luật sư hoặc là công dân. Nếu chọn là luật sư bảo vệ thân chủ thì anh không tố cáo, còn chọn làm công dân để tố cáo thì anh thôi là luật sự bảo vệ thân chủ. Anh không thể vừa làm luật sư bảo vệ thân chủ của mình, vừa tố cáo thân chủ của mình để tròn vai công dân được. Ép buộc luật sư phải tố cáo thân chủ của mình là trái với đạo đức nghề nghiệp của người luật sư.

Những lập luận ở trên cho thấy, việc một luật sư có tố cáo thân chủ của họ hay không là một vấn đề thuộc về lương tâm, thuộc về lựa chọn cá nhân, xuất phát từ tự do cá nhân và từ việc trả lời câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống mà tôi đang đối mặt?” của người luật sư. Đó là những vấn đề thuộc về phạm trù chủ quan và cá nhân. Vì thế, không thể ép buộc và càng không thể đưa thành luật định. 
---

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

Con người tự do

Giáp Văn Dương

Triết lý giáo dục của thời đại mới phải hướng đến việc đào tạo con người tự do, thay vì đào tạo con người công cụ như hệ thống giáo dục hiện thời. Con người tự do là đích đến của giáo dục.

Tôi đã dành 22 năm của cuộc đời mình để đi học. Trong đó, 17 năm học phổ thông và đại học ở Việt Nam, và 5 năm sau đại học ở nước ngoài. Trong khoảng thời gian đó, tôi đã trực tiếp trải nghiệm ba nền giáo dục khác nhau.

Tôi cũng là một phụ huynh có ba con nhỏ. Con đi học, tôi vì trách nhiệm và vì tò mò mà dành thời gian tìm hiểu chương trình, rồi học cùng con ở hai quốc gia khác nhau nữa. Vậy tính ra, tôi đã đi qua năm nền giáo dục Á - Âu, cả trực tiếp và gián tiếp.

Vậy tôi thấy gì khác nhau trong năm nền giáo dục đó? Và quan trọng hơn, bài học nào sẽ được rút ra từ những trải nghiệm thực tế đó.

Tôi thấy rằng, dù khác nhau về văn hóa, thể chế và tôn giáo, nhưng mục tiêu giáo dục nơi đâu cũng chỉ chia ra thành hai loại: Đào tạo con người công cụ và đào tạo con người tự do.

Hai mục tiêu này không tách bạch tuyệt đối, thường lồng ghép xen lẫn vào nhau theo chủ ý hoặc vô thức do tập tục. Tùy theo mức độ công cụ hay tự do nhiều hay ít, mà hệ thống giáo dục đó sẽ tạo ra con người công cụ hay con người tự do theo cách tương ứng.

Như mọi hệ thống sản xuất khác, một hệ thống chỉ có thể vận hành trơn tru hiệu quả và không rơi vào hỗn loại khi hình dung đích xác được sản phẩm đầu ra có những thuộc tính nào. Với giáo dục, thì đó chính là việc gọi tên triết lý giáo dục thông qua việc trả lời câu hỏi cốt yếu: Hệ thống giáo dục hướng đến việc đào tạo con người nào?

Câu trả lời cho câu hỏi này hông là gì khác, mà chính là triết lý giáo dục. Chỉ khi nào câu hỏi này được trả lời rõ ràng, dõng dạc và chính danh thì triết lý giáo dục mới tỏ lộ và trở thành tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của hệ thống giáo dục. Nếu không, giáo dục sẽ rơi vào bế tắc.

Với cách hiểu về triết lý giáo dục như thế, với việc phân tích nội dung chương trình giáo dục và với những trải nghiệm về hệ thống giáo dục hiện hành, tôi hoảng hốt nhận ra rằng, triết lý giáo dục của hệ thống hiện thời là đào tạo con người công cụ.

Đó là lý do vì sao tôi đã gặp nhiều khó khăn khi ra nước ngoài du học trong những ngày đầu. Tôi gần như phải tự đào tạo lại từ đầu, không chỉ kiến thức, kỹ năng, mà còn là những quan niệm về bản thân mình và cuộc sống, và cả những giá trị mà một xã hội cần hướng tới.

Tôi hiểu rất rõ cái giá mà tôi phải trả trong suốt thời gian đó. Và sau khi tỉnh ngộ ra điều đó, tôi bắt đầu gây dựng và theo đuổi một triết lý giáo dục mới, phát biểu giản dị rằng: Con người tự do là đích đến của giáo dục.

Nói cách khác, câu trả lời cho câu hỏi “Học để làm gì?” sẽ ngắn gọn là: Học để làm người tự do.

Vấn đề đặt ra: Con người tự do là gì? Và vì sao giáo dục lại cần hướng đến việc đào tạo ra những con người tự do như vậy?

Con người tự do, như tên gọi của nó, thể hiện trước hết ở việc tự do đi tìm câu trả lời cho câu hỏi cốt yếu “Tôi là ai?”. Đó chính là tự do tư tưởng. Tư tưởng về chính bản thân mình. Con người khác với con vật ở chỗ con người biết hỏi “Người là gì, tức Tôi là ai?”, còn con vật thì không. Chính việc tự do đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này là cội nguồn của văn minh nhân loại, hình thành nên nhân tính và xã hội con người.

Mà muốn vậy, điều kiện tiên quyết là họ phải có được tự do tư tưởng để tư duy và trước khi đi đến câu trả lời cho câu hỏi tôi là ai của riêng họ đó.

Mà để tư duy hiệu quả và chính xác, họ cần thông tin như những nguyên liệu đầu vào. Vì thế, tự do tư tưởng đòi hỏi tự do thông tin như một điều kiện cần. Nếu không có tự do thông tin, sẽ không có tự do tư tưởng. Trong giáo dục, điều này có nghĩa, học sinh và giáo viên phải được quyền tiếp cận với các nguồn tư liệu và tài liệu tham khảo khác nhau, thể hiện trước hết ở nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau được lưu hành.

Trong lớp học, học sinh phải được tự do bày tỏ ý kiến và diễn giải của mình. Nội dung bài học vì thế không được phép đóng cứng vào một diễn giải cụ thể nào, dù đó là diễn giải của người thầy đáng kính. Nếu không, học sinh sẽ mắc kẹt vào một diễn giải cụ thể, làm thui chột sáng tạo và trở nên máy móc. Việc học rõ ràng không phải chỉ là ghi nhớ giải pháp của thầy cô, mà là tìm được bao nhiêu giải pháp theo cách của riêng mình cho vấn đề mình đang đối mặt.

Tự do tư tưởng vì thế gắn liền với việc dịch chuyển nhận thức để không bị đóng cứng vào một nhận thức đã có. Chỉ khi đó, người học mới có khả năng mở ra những nhận thức mới, tương thích với thời đại mới, thời đại mà những người sinh ra và dạy dỗ họ không có cơ hội để bước vào.

Việc thi cử khi đó cũng không đi theo hướng có học thuộc, biết đúng điều đã được dạy để thi hay không, mà trở thành thước đo cho sự trưởng thành của người học, mà quan trọng nhất là sự trưởng thành trong tư duy của họ, biểu hiện qua một năng lực cốt yếu: Năng lực tư duy độc lập.

Vì sao như vậy, vì nếu không có năng lực tư duy độc lập, một người dù đã bạc đầu, vẫn cần phải cậy nhờ đến tư duy của kẻ khác, do đó trên thực tế vẫn là trẻ vị thành niên. Đất nước không cần nhiều trẻ vị thành niên bạc đầu như vậy.  Đất nước cần những con người trưởng thành, có tư duy độc lập, để xây dựng một đất nước độc lập và trưởng thành.

Rồi nữa, sau khi có tự do tư tưởng, thì lại phải có một hình thức nào đó để biểu đạt cái tự do tư tưởng đó, vì thế mà tự do ngôn luận phải được hình thành. Nếu không, tự do tư tưởng chỉ diễn ra trong đầu của mỗi cá nhân, bị giới hạn bởi chính nhận thức chủ quan của cá nhân đó, do đó không mang lại lợi ích gì nhiều cho xã hội.

Con người khác con vật chủ yếu ở khả năng nhận thức và tư tưởng, trong đó có nhận thức và tư tưởng về chính bản thân mình. Vì thế, tự do tư tưởng là tầng thứ nhất, là nền móng quan trọng nhất của con người tự do.

Tầng thứ hai của con người tự do là tự do lựa chọn. Lựa chọn là cấp độ cơ bản nhất của hành động. Nhìn thật kỹ chúng ta sẽ thấy mọi hành động có nghĩa đều bắt đầu bằng một lựa chọn. Ngay cả khi không lựa chọn cũng là một lựa chọn. Vì thế, để cho sức mạnh và sự hữu ích của tự do tư tưởng được hiện thực hóa, cần thiết phải có tự do lựa chọn.

Vì sao? Vì sau khi đã có tự do tư tưởng, đã có thể tư duy độc lập, thì ta phải làm điều gì đó chứ? Không ai trả lương cho người lao động vì họ biết gì và nghĩ gì trong đầu. Người lao động được trả lương vì họ tạo ra được giá trị gì cho người sử dụng. Nếu giáo dục chỉ đào tạo ra những thế hệ học nhiều thi giỏi mà không biết làm việc, không có khả năng lựa chọn thì rõ ràng nền giáo dục đó đã sai đường.

Với giáo dục, tự do lựa chọn thể hiện trước hết trong việc được quyền lựa chọn hình thức học tập phù hợp với mình. Vì thế, bên cạnh những loại hình trường hiện có, loại hình homeschooling, tức học tại nhà, cần được thừa nhận về mặt pháp lý. Trẻ vì lý do gì đó, như sức khỏe yếu, mới ở nước ngoài về, hoặc đơn giản là muốn thay đổi cách học một thời gian, mà chọn hình thức học tại nhà thì cần được thừa nhận, miễn sao có cơ chế kiểm tra đánh giá.
Quyền tự do lựa chọn còn thể hiện ở việc được lựa chọn chương trình học tập. Vì lẽ đó, cần phải có nhiều bộ sách giáo khoa, thay vì chỉ một bộ sách giáo khoa như hiện giờ. Rồi xa hơn thế, người học cần được quyền lựa chọn giáo viên phù hợp. Vì thế hệ thống giáo dục cần phải tổ chức sao cho lựa chọn này thực hiện được, ví dụ bỏ biên chế suốt đời. Không thể nào một giáo viên kém, nhưng vì lý do nào đó, vào được hệ thống giáo dục, thì nghiễm nhiêm ở đó gần 40 năm cho đến lúc về hưu mà không có cách nào để thay thế.

Tự do lựa chọn được đặt cơ sở trên tự do tư tưởng. Tự do tư tưởng diễn ra ở bên trong bản thân mình, còn tự do lựa chọn là sự thể hiện cái tự do bên trong đó ra bên ngoài thông qua lựa chọn. Nhờ đó, tự do bên trong mỗi người được thể hiện ra đời sống, và hòa cùng tự do của người khác, trên cơ sở tôn trọng tự do của chính người khác đó.

Nhờ có tự do lựa chọn mà một người có khả năng tự quyết về cuộc đời mình, do đó làm chủ cuộc đời mình, và do đó tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình như một hệ quả tất yếu. Đó là sự trưởng thành đích thực. Đó là điều mà giáo dục hướng tới. Nếu không, xã hội sẽ thì là một tập hợp những kẻ vị thành niên, dù đầu đã bạc và khi đi học thì điểm cao ngất ngưởng.  

Nói cách khác, một người có tự do lựa chọn là một người đã có khả năng lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc đời mình, và tự chịu trách nhiệm về sự làm chủ đó. Đó chính là những phẩm chất mà một người học cần hướng tới. Lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc đời mình là thước đo cho sự trưởng thành thực sự cho người học.

Sau khi đã có được tự do tư tưởng và tự do lựa chọn, chúng ta đã thành con người tự do ở cấp độ cơ sở nhất. Nhưng con người không chỉ có tư tưởng. Con người còn có cơ thể này và muôn vàn cảm xúc và các trạng thái tinh thần đi kèm. Mỗi sự thay đổi trạng thái của cơ thể, trạng thái cảm xúc, trạng thái tinh thần thì đều tạo ra một sự trở thành mới. Nguồn gốc của những sự trở thành mới này là sự tương tác của những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, cũng như sự kết nối của những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình đó.

Tầng thứ ba của con người tự do sẽ là tự do trở thành, tức được tự do trong việc quyết định trở thành người mình chọn để trở thành. Nó bao gồm tự do thân thể, tự do biểu đạt cảm xúc, tự do biểu lộ tinh thần. Sự thay đổi của chúng chính là sự thay đổi của chúng ta. Người học phải nhận biết và làm chủ được những sự thay đổi đó,  thông qua lựa chọn trong tự do và sau khi suy xét.

Vì thế, tự do trở thành đặt cơ sở trên tự do lựa chọn và tự do tư tưởng.

Cho đến nay, tự do thân thể đã được pháp luật bảo hộ, nhưng nhiều khi còn mâu thuẫn khi triển khai. Quyền tự do thân thể chưa được nhận thức đúng. Bạo hành trong gia đình và nhà trường, một sự xâm phạm tự do thân thể điển hình, vẫn xảy ra thường xuyên. Bạo lực học đường bùng phát cũng là chỉ dấu xấu cho thấy tự do thân thể đã bị xâm phạm ngay trong môi trường trong sáng nhất là nhà trường.

Còn tự do biểu đạt, dù là cảm xúc hay tinh thần, gần như ít khi được xét đến. Một phần do văn hóa truyền thống, một phần do giáo dục đã bỏ qua thứ tự do trở thành này, nên con người không được sống thật với cảm xúc và các giá trị tinh thần của mình, lại càng không dám biểu đạt chúng ra cho người khác thấy. Tất cả những điều này đều không tốt cho sức khỏe tâm thần, cho sức sáng tạo, và rộng hơn là cho một xã hội lành mạnh.

Vì sự trở thành có nguồn gốc từ sự kết nối và phản ứng với những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, tự do trở thành vì thế là cơ sở cho sự triển khai việc sống của một người ở trong đời sống. Nhờ đó, một người có thể tự phát triển bản thân mình, tự hoàn thiện việc sống của mình trở nên lịch lãm, tinh thông và đẩy việc sống trở thành một nghệ thuật đáng ngưỡng mộ.

Khi đó, người ấy không chỉ trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?”, mà còn có thể trả lời được câu hỏi cốt yếu khác, như: Ý nghĩa cuộc sống là gì? Ta đang đi qua cuộc sống này như thế nào?, Ta sẽ làm gì với cuộc đời mình? Trên tất cả, những câu trả lời này sẽ không chỉ đến được từ lý trí nhờ tự do tư tưởng, mà đến từ toàn bộ khối trải nghiệm của mình ở trong đời sống, chân thật như một phần của đời sống đang-là.

Tầng thứ tư của con người tự do là tự do kiến tạo, có được trên nền móng từ ba thứ tự do đã nói ở trên. Tương lai của một con người, tương lai của một quốc gia, nằm ở thứ tự do kiến tạo này.

Vì con người ta chỉ có thể sống ở thì hiện tại, tức ở cái bây-giờ, nên cả bốn tầng bậc tự do này đều diễn ra ở thì hiện tại. Tuy nhiên, tự do kiến tạo lại có mục tiêu hướng đến tương lai, cụ thể là kiến tạo một tương lai tốt đẹp hơn so với những gì đang có.

Tự do kiến tạo vì thế là tự do trong việc tư tưởng, lựa chọn và trở thành một tương lai mới tốt đẹp hơn, hiệu quả hơn, xứng đáng hơn. Điều này là cần thiết, vì nếu không, mỗi người và do đó cả xã hội, sẽ chỉ giậm châm tại chỗ mà không tiến lên được bước nào trên hành trình phát triển.

Tuy nhiên, có được tương lai kiến tạo không hề dễ. Một người chỉ có thể kiến tạo tương lai nếu tương lai đó đã được kiến tạo trong tâm trí mình trước hết. Do đó, tự do kiến tạo lại trở về với nền móng ban đầu của nó, đó là tự do tư tưởng. Không có tự do tư tưởng sẽ không có tự do kiến tạo.

Vì nhận thức của con người là kết quả của một chuỗi những trải nghiệm mà họ đã kinh qua, nên họ chịu giới hạn bởi chính những trải nghiệm họ đã kinh qua đó. Nói cách khác, nhận thức của chúng ta bị giới hạn bởi chính nhận thức của chúng ta ở trong quá khứ. Vì thế, nếu không ra khỏi quá khứ, tương lai sẽ bị giam hãm bởi chính quá khứ. Lịch sử của đất nước chúng ta trong mấy chục năm gần đây đã minh chứng cho điều này, rằng quá khứ vẫn còn đang ngự trị. Với giáo dục thì điều này lại càng trở nên rõ nét, khi cải cách giáo dục cứ mãi sa vào sự vụ hết lần này đến lần khác mà không ra khỏi được bế tắc do chính quá khứ mang lại.

Vì vậy, để có được tự do kiến tạo, giáo dục phải là cho người học có khả năng vượt qua những rào cản nhận thức gây ra bởi quá khứ. Nói cách khác, giáo dục phải có khả năng làm cho người học vượt thoát khỏi những giới hạn do chính giáo dục mang lại. Điều này thể hiện trước hết ở khả năng thay thế những nhận thức cũ, giá trị cũ, tham chiếu cũ băng những cái mới. Nhờ đó, chúng ta có thể vượt qua chính mình để tạo chính mình.

Thực tế cho thấy, ai không làm chủ cuộc sống sẽ bị cuộc sống làm chủ. Ai không làm chủ tương lai sẽ bị tương lai gạt bỏ ngoài lề. Tự do kiến tạo vì thế là thứ tự do vượt thoát chính mình để tồn tại và phát triển.

Một con người tự do như thế, tức một con người có tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành và tự do kiến tạo, là một con người của thời đại mới. Và cũng chỉ một con người tự do như thế mới có khả năng sống một cuộc đời đáng sống, cho mình và xã hội.

Đó là lý do vì sao tôi luôn tâm niệm rằng, triết lý giáo dục của thời đại mới phải hướng đến việc đào tạo con người tự do, thay vì đào tạo con người công cụ như hệ thống giáo dục hiện thời.

Con người tự do là đích đến của giáo dục.

---
Ghi chú: Bản rút gọn của bài này đã đăng trên mục Góc nhìn của Vnexpress.net.

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Trẻ con và người lớn

Giáp Văn Dương

Trong bài luận để đời: trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì? I. Kant đưa ra nhận định: Khai sáng là sự vùng thoát của con người ra khỏi tình trạng vị thành niên do chính con người gây ra.



Thời niên thiếu, vị Tổng thống vừa đắc cử của Pháp Emmanuel Macron đã được xem là trưởng thành trước tuổi nên ông chỉ giao du với người lớn hơn.

– Vì sao lại phải vùng thoát?

– Vùng thoát khỏi cái cái gì?

– Vì sao lại vị thành niên?

Chỉ một nhận định của Kant mà biết bao vấn đề cần phải khám phá. Biết bao câu hỏi cần phải trả lời.

Bài luận này I. Kant viết năm 1784 ở nước Đức xa xôi. Có liên hệ gì với ta mà lại mang ra đây bàn thảo?

Thì đây: một trăm năm chục năm sau ở nước Nam ta, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu buột miệng than một câu như sấm: Dân hai nhăm triệu ai người lớn/ Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Dù Tản Đà không sống cùng thời với Kant, cũng không sống cùng đất nước của Kant, nhưng lời than nghe ra có gì phảng phất điều Kant đã nói. Rồi thời gian trôi chảy. Rồi bể dâu trồi sụt không ngừng. Trăm năm sắp trôi qua mà câu thơ của Tản Đà vẫn sừng sững như một sự thách đố. Đứa trẻ sinh ra khi cùng với câu thơ của Tản Đà nay đã gần trăm tuổi. Đầu đã bạc phơ phơ và lên chức cụ. Nhưng liệu cụ đã thành người lớn?

Dân số của nước Nam giờ cũng đã gần trăm triệu. Nhưng “ai người lớn?” Không ai dám chắc. Vì sao? Vì những câu hỏi ở đầu bài này, ngay sau lời trích dẫn của Kant, vẫn còn buông lửng. Đành tự hỏi:

– Vì sao phải vùng thoát?

– Vì nếu không vùng thoát thì ta cứ mãi ở trong đó. Đó là tấm nệm êm ái, càng nằm lâu càng lún sâu. Không vùng thoát ra, ta sẽ chìm vào nó mãi.

– Nhưng vùng thoát thì đó là vùng thoát cái gì?

– Thì vùng thoát khỏi nó. À mà không, vùng thoát khỏi chính ta. Vùng thoát khỏi sự tăm tối của chính ta, do chính ta gây ra. Vùng thoát khỏi chính ta để ta trở thành người khác.

– Người khác là người nào?

– Là người qua ngưỡng vị thành niên, tức người trưởng thành. Đừng tưởng trăm tuổi là đã trưởng thành. Râu tóc bạc phơ vẫn có thể vị thành niên như thường…

Ông lão sinh ra cùng năm với câu thơ sấm của Tản Đà đi qua, bất giác hỏi:

– Sao lại có chuyện oái oăm như thế. Như ta đây, trăm tuổi đích thị là ông lão, sao lại gọi là trẻ con?

– Xin thưa, ông lão vẫn là ông lão. Không ai dám tranh chức ấy của lão cả. Nhưng trẻ con vẫn là trẻ con. Không ai dám chắc mình không còn trẻ con cả. Trẻ con ở đây là trẻ con về mặt trí tuệ. Trăm tuổi đời mà trí tuệ có khi chỉ như trẻ lên mười.

– Anh nói nhảm. Đã trăm tuổi thì sao trí tuệ lại như trẻ lên mười?

– Việc lớn việc nhỏ cứ không dám nghĩ dám làm, cứ ngước mắt lên chờ chỉ thị ban xuống, thì đích thị là trẻ lên mười chứ sao hả cụ.

Vậy là đã gần trăm năm rồi vẫn cứ trẻ lên mười không chịu trưởng thành. Tuy danh xưng là lão, nhưng đích thực là Lão Nhi Đồng. Nếu không, đã chẳng sống dai như vậy.

À ra thế! Đến bây giờ ta đã mang máng hiểu lời Kant. Sự vùng thoát là vùng thoát ra khỏi trạng thái nhi đồng. Nếu không, ta sẽ chìm mãi trong tuổi nhi đồng, không chịu lớn. Ta sẽ ôm ấp mãi trạng thái vị thành niên, không chịu trưởng thành. Vậy nên mới phải vùng thoát ra khỏi cái trạng thái vị-thành-niên-không-chịu-trưởng-thành.

– Nhưng cái ông Kant nói vậy nghĩa là sao?

– Là ông ấy bảo, vị thành niên hay không là vị thành niên thì chẳng liên quan gì đến tuổi tác. Điều ông ấy nói là sự trưởng thành về mặt trí tuệ. Có khi, trăm tuổi mà vẫn như trẻ con cụ ạ.

– Nhà ông Kant nói phải. Càng già lại càng giống trẻ con. Nhưng nghe ông ấy nói, cụ thấy vẫn có gì không ổn…

– Không ổn chỗ nào hả cụ?

– Thì ông ấy cứ nói khơi khơi. Nói phải có sách, mách phải có chứng, thì người ta mới chịu.

– Thế theo cụ, phải thế nào mới là nói có sách, mách có chứng?

– Thì phải cho cái thí dụ. Có người nào đầu bạc nhưng vẫn vị thành niên. Nếu không, thì cụ thấy như ông ấy đang cạnh khoé…

– À, cái này thì dễ lắm. Tiếc là ông Kant không có ở đây, nên cháu đưa ra thí dụ thay cho ông ấy vậy. Nhưng trước khi đưa ra thí dụ, cháu muốn hỏi cụ: theo cụ, tiêu chuẩn nào để phân biệt một người là trẻ con và một người được coi là trưởng thành?

– À… Ờ… Ờm. Lớn lên, lấy vợ lấy chồng sinh con để cái thì gọi là trưởng thành. Còn trước, thầy u đặt đâu con ngồi đấy thì gọi là trẻ con.

– Nhưng tại sao thầy u đặt đâu thì cụ lại ngồi đấy?

– Thì tại vì như thế!

– Tại vì như thế là tại sao hả cụ?

– Thì là tại vì như thế? Một câu tiếng Việt mà anh không hiểu. Anh định gây sự với cụ à?

– Dạ không. Cháu chỉ muốn hỏi “Tại vì như thế” là có nghĩa là sao ạ.

– Là tại vì như thế chứ thế nào. Thật là ấm ớ nhà cái anh này.
---