Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

Khai giảng: LÃNH ĐẠO KHAI SÁNG (HN: 2-5/11/2017).

Để lãnh đạo bản thân và làm chủ cuộc sống thì năng lực gì là quan trọng nhất? Câu trả lời là năng lực lãnh đạo. Vì sao? Vì những bế tắc trong đời sống cá nhân và tổ chức, nếu phân tích thật kỹ, thì đều quy về sự bế tắc trong lãnh đạo!
Với phương pháp đào tạo chuyển hóa và chương trình được thiết kế độc đáo, khóa học “Lãnh đạo Khai sáng” dưới sự dẫn dắt của TS. Giáp Văn Dương, sẽ giúp bạn trải qua hành trình tự thân khai sáng để chuyển hóa trở thành nhà lãnh đạo chỉ trong 4 ngày!
Khóa học đã thành công với hàng trăm học viên, và đã được đưa vào đào tạo cho các tập đoàn lớn, như Mylan Group, BachViet Land, Viettel…
Khóa học sắp tới sẽ sớm khai giảng với các thông tin sau:
- Thời gian: 2-5/11/2017
- Địa điểm: Ecopark / Hà Nội
- Giảng viên: TS. Giáp Văn Dương
Thông tin chi tiết vui lòng xem tại:

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

Chữ Tín

Cách đây vài năm, khi đi mua sắm ở một siêu thị lớn, gia đình tôi đã rất bối rối khi bị yêu cầu phải gửi hết đồ đạc của mình để chỉ đi người không vào mua sắm. Nhưng sự việc trở rối rắm khi chúng tôi mua đồ và thanh toán xong, vừa bước đi vài bước lại bị bảo vệ kiểm tra túi đồ của mình xem có khớp với hóa đơn không thì mới được đi về. 

Lúc đó chúng tôi đã phản đối vì cho rằng làm như thế vừa mất thời gian, vừa thiếu tôn trọng khách hàng. Anh bảo vệ chỉ nói đó là quy định mà không giải thích tại sao. Mà quả thực chúng tôi cũng không hiểu tại sao thật. 

Phải sau khi đã về nhà, thảo luận một khúc, chúng tôi mới hiểu ra rằng, bảo vệ làm thế là để tránh việc thu ngân thông đồng với khách hàng mang đồ ra khỏi siêu thị. Lúc đó, chúng tôi hơi ngốc nghếch sau hơn chục năm ở nước ngoài, nên không hiểu ra quy trình này, vì nó quá xa lạ và gây sửng sốt. Bài học tôi rút ra sau sự kiện đó là niềm tin trong xã hội đang thiếu hụt trầm trọng. 

Rồi sau đó, mỗi khi phải làm gì đó liên quan đến giấy tờ, như xin học cho con chẳng hạn, tôi để ý thấy trên hồ sơ của mình lúc nào cũng chi chít dấu đỏ. Những giấy tờ tôi dùng trước đây cũng thế, bao giờ cũng phải có ít nhất một dấu đỏ đóng trên đó thì mới đáng tin. Còn không có dấu đỏ là không có giá trị. 

Tôi bắt đầu đặt ra câu hỏi, vì sao hồ sơ giấy tờ hành chính ở nhà bao giờ cũng đỏ rực những con dấu? Vì quy trình nó thế, hay vì người ta không tin nhau, phải có con dấu thì mới đáng tin? Không có dấu đỏ, thì lời nói của anh, chữ ký của anh, dù rành rành ra đó, cũng không có chút giá trị nào cả. 

Nhưng oái ăm ở chỗ, quy trình chặt chẽ thế, nhiều dấu đỏ thế, mà chưa ở đâu tôi thấy giấy tờ văn bẳng giả nhiều như ở đây. Người ta có thể rao bán những thứ giấy tờ văn bằng giả công khai trên mạng, trong các tờ rơi dán trên tường, có cả điện thoại và tên người liên hệ đàng hoàng.

Ngày xưa, khi chưa có con dấu và nhiều người chưa biết chữ, thì người ta điểm chỉ. Lúc đó, dân ta còn chưa biết điểm chỉ là một cách lấy dấu vân tay, nên dấu điểm chỉ thường chỉ là một chấm đen xì. 

Nhưng cái chấm đen xì đó vẫn trở thành vật bảo chứng. Nó như tảng đá ở ven đường rằng, đây nhé, câu chuyện của chúng ta diễn ra ở cạnh hòn đá này đấy. Ông biết và tôi biết, có hòn đá làm chứng nữa. Chỉ như vậy thôi là đủ, không ai tính chuyện lật kèo ai vì đã có hòn đá làm chứng ở ven đường.
Ám ảnh về con dấu mạnh mẽ đến mức luật doanh nghiệp cho phép bỏ con dấu khi giao dịch mà trên thực tế, sau gần hai năm triển khai, tôi chưa thấy đơn vị nào dám bỏ con dấu. Các văn bản doanh nghiệp trình lên vẫn được yêu cầu phải đóng dấu thì mới có hiệu lực. 

Điều này trái ngược hoàn toàn với những giấy tờ hành chính tôi đã sử dụng khi còn ở nước ngoài. Tôi hiếm khi nhìn thấy con dấu đóng trên những giấy tờ đó. Tất cả chỉ là một chữ ký tay. Dù đó là giấy tờ quan trọng đến mức nào đi chăng nữa, chỉ chỉ cần người hữu trách ký vào là đủ. 

Trong các giao dịch thông thường tôi còn không cần phải ký. Chỉ cần in văn bản ra và gửi đi là xong. Nhiều trường hợp còn không cần văn bản, chỉ cần gọi điện là đủ. Sau này tôi hiểu rằng đó là cơ chế hậu kiểm. Điều này trái ngược hoàn toàn với cách tiền kiểm kỹ càng quá đáng, đến mức không tin, không quản được thì cấm, mà tất cả chúng ta đều quen thuộc. 

Và tôi quan sát thấy, ở những nơi mà tôi đã đi qua, những nơi người ta ít đóng dấu đỏ lên các văn bản như thế, thì đều là những đất nước phát triển hơn đất nước của tôi. 

Tìm hiểu thêm thì tôi hiểu ra rằng, ở những nơi đó, niềm tin đang được sử dụng như một thứ vốn xã hội. Khi người ta tin nhau thì người ta không mất thời gian công sức để kiểm tra và đề phòng nhau, vì thế mà người ta tiết kiệm được nguồn lực, và người hợp tác với nhau hiệu quả hơn. 

Việc này giúp cho năng suất lao động của cả xã hội tăng lên. Niềm tin vì thế đang hoạt động như một thứ vốn đặc biệt, gọi là vốn xã hội. Nhờ có loại vốn này mà xã hội của họ vận hành hiệu quả hơn, phát triển nhanh hơn. Còn ở ta, có cả một bộ máy hùng hậu ăn lương để chỉ làm một việc là kiểm tra lẫn nhau và tìm cách qua mặt nhau. Các bên thay vì tin nhau và hỗ trợ nhau thì lại quay ra làm khổ nhau. Vì thế mà mất thời gian, vì thế mà kém hiệu quả. 

Vốn xã hội quan trọng như vậy, nhưng làm sao để tăng vốn xã hội đây? Như đã thấy, niềm tin nằm ở trung tâm của vốn xã hội. Vì thế, bất cứ việc gì giúp tăng niềm tin thì đều giúp tăng vốn xã hội. Trong đó, quan trọng nhất là niềm tin của nhân dân và chính quyền, niềm tin của người dân với tương lai của đất nước họ, và niềm tin giữa người với người trong xã hội trong mọi sinh hoạt hằng ngày. 

Để gia tăng niềm tin đó thì những người đang cầm giữ kỷ cương của đất nước, những quan chức, phải gương mẫu trước hết. Nếu người trên không khả tín thì sao có thể đòi hỏi người dưới đáng tin. Người xưa nói, thượng bất chính hạ tắc loạn cũng là vì lẽ này vậy. 

Rõ ràng, người ta chỉ có thể tin sau khi đã hiểu. Mà để hiểu thì điều kiện tiên quyết là phải tôn trọng và lắng nghe nhau. Rồi nữa, sau khi đã hiểu và đã tin, thì các bên cần phải giữ chứ Tín của mình để duy trì niềm tin đó, phổ biến nhất là bằng cách trân trọng lời nói của mình và giữ cho hành xử của mình được nhất quán. Nếu không, bao nhiêu công sức gây dựng niềm tin cũng sẽ đổ sông đổ bể. Một lần bất tín vạn sự bất tin là vì vậy. 
Vai trò của niềm tin như một thứ vốn không chỉ đúng với xã hội mà còn đúng với cả tổ chức và các cá nhân. Với cá nhân, niềm tin chính là vốn liếng lớn nhất để một người lập nghiệp. Lớn đến mức nào? Đến mức vượt qua mọi thứ vốn liếng khác. Đến mức, mất niềm tin thì bị coi là mất tất cả. Vì sao? Vì khi mất niềm tin thì không còn ai muốn làm việc với anh, và vì thế, anh không có cách nào để thành việc cùng người khác. 

Niềm tin quan trọng như thế, nhưng ngày nay, niềm tin suy thoái đến mức, ngay cả khi đã đóng dấu, hoặc đã ký tên điểm chỉ, và có thêm cả người làm chứng, thì người ta vẫn có thể lật kèo dễ dàng. Và thường xuyên, họ biện minh đó là những giải pháp tình thế. Nghĩa là sao? Nghĩa là tình hình thế thì buộc phải thế. Nhưng hậu quả lại không thế. Hậu quả là sự đổ vỡ lâu dài, không phải là những tình thế nhất thời. Vì sao? Vì nếu người lật kèo là dân thường, thì chỉ một mối quan hệ cá nhân bị đổ vỡ. Nhưng nếu người lật kèo là quan chức, thì rường mối xã hội bị hủy hoại. Còn nếu người lật kèo là nguyên thủ, thì không chỉ an ninh quốc gia bị ảnh hưởng, mà quốc gia còn không có cách nào giao dịch làm ăn trên trường quốc tế. Trong những tình huống đó, lời nói là chữ ký. Anh nói sao thì nó sẽ là như vậy. Nếu không, anh sẽ mất lòng tin. Mà mất lòng tin là mất tất cả. 

Hẳn các doanh nhân đã hiểu rất rõ giá trị của điều này, khi họ đặt chữ Tín lên trên hết. Chính là chữ Tín, chứ không phải là chữ nào khác. Đối với doanh nhân, chữ Tín quý hơn vàng, chữ Tín là trên hết. Giữ chữ Tín vì thế trở thành lẽ sống của các doanh nhân đích thực. Giữ bằng cách nào? Phổ biến nhất là bằng cách giữ lời nói và hành động của mình được nhất quán. Họ luôn coi lời nói chính là chữ ký của mình. Chỉ cần nói ra và xác nhận với nhau là đủ, không cần đến việc phải ký kết, lại càng không cần đến việc phải đóng dấu. 

Mà ngẫm ra, câu chuyện về vai trò của niềm tin và chữ Tín không chỉ đúng với giới doanh nhân, mà còn đúng với mọi giới khác. Sở dĩ trong Đông Tây kim cổ, các chính trị gia thường bị dân chúng ghét, chủ yếu là vì họ không giữ được chữ Tín, nói một đằng làm một nẻo, chứ không phải vì họ kém tài năng hay thiếu hấp dẫn. Thực tế cho thấy, những chính trị gia nào giữ được chữ Tín thì đều được dân chúng kính trọng và có sự nghiệp đáng ghi nhận. Chữ Tín khi đó sẽ có sức mạnh đi xuyên qua những kỹ xảo ngôn từ để chạm đến trái tim người đối tiếp. 

Như thế, niềm tin là vốn liếng của xã hội. Chữ Tín vốn liếng của cá nhân. Xã hội có niềm tin thì sẽ phát triển. Có nhân có chữ Tín thì sẽ thành việc. Còn ngược lại, mất niềm tin và mất chữ Tín thì sẽ mất tất cả. 

Chân lý giản dị này ai cũng hiểu ra, nhưng phải là người bản lĩnh mới thực hiện được. 

Giáp Văn Dương
---
Bản rút gọn bài này đã đăng ở Vnexpress.net.

Biên chế hay không biên chế?

01/06/2017 14:02 GMT+7
Biên chế không phải là thứ tạo ra chất lượng giáo dục, mà chính việc bãi bỏ chế độ biên chế mới là giải pháp đúng ở trong dài hạn.
Mấy ngày nay, ngành giáo dục đang sôi sùng sục với dự định thí điểm bãi bỏ chế độ công chức, viên chức đối với giáo viên. 
Theo cách hiểu của giáo giới thì đây là bãi bỏ chế độ biên chế đối với giáo viên. Trong bài viết này, tôi dùng chữ “biên chế” để chỉ những người làm việc theo Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức cho gọn.
biên chế giáo viên, Đổi mới giáo dục, giáo viên
Ảnh: Thanh Hùng
Trước khi đi vào thảo luận chi tiết về dự định này, cần làm rõ xem biên chế sinh ra để làm gì? Biên chế được sinh ra để đảm bảo cho người lao động yên tâm làm việc, tránh được các áp lực từ bên ngoài mà ảnh hưởng xấu đến công việc của mình, cụ thể là làm biến dạng bản chất công việc của mình dưới sức ép của các yếu tố bên ngoài, trong đó có sức ép của người, hoặc đơn vị trả lương cho mình.
Vậy ai thì cần biên chế? 
Ở nước ngoài, thì đó là những người cần phải giữ tiếng nói độc lập của mình, bất chấp sự kiện rằng, tiếng nói đó có thể xung đột với ý kiến của người trả lương cho họ. 
Đó là ai? Đó là các Thẩm phán của Tòa án Tối cao, một khi đã được bổ nhiệm thì sẽ có hiệu lực suốt đời, nhằm tránh áp lực từ bên ngoài, hầu giữ được sự độc lập trong việc bảo vệ công lý, diễn giải hiến pháp và đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật. 
Ngoài ra, đó cũng có thể là những giáo sư của các trường đại học, người khi đã vào biên chế, thì sẽ không bị mất việc nếu không bị trường chứng minh phạm pháp, hoặc năng lực làm việc quá kém. Để làm gì? Để họ có thể bảo vệ tự do học thuât, đi tìm chân lý, mà không chịu sức ép của nhà trường.
Ở Việt Nam, cả hai trường hợp này đều không xảy ra. Biên chế sinh ra chỉ đơn thuần là để có một việc làm suốt đời, một sự ổn định trong công việc, chứ không phải là để bảo vệ công lý hoặc tự do học thuật.
Vậy biên chế ở Việt Nam có cần thiết?
Trước hết, cần nhìn ra thế giới để thấy rằng, bãi bỏ biên chế làm việc suốt đời đang là một xu hướng. Thống kê cho thấy, một người Mỹ trung bình chuyển việc 15 lần trong cuộc đời của mình. Xu hướng này càng tăng đối với những người trẻ tuổi. Vì sao? Vì với sự phát triển của công nghệ hiện giờ, các ngành nghề liên tục mất đi, và các ngành mới liên tục ra đời. Ít ai dám chắc 5 năm nữa mình sẽ làm gì, ở đâu. Vậy nên thay đổi việc làm liên tục, và vì thế phải học tập suốt đời, là một xu hướng không thể tránh khỏi.
Ở Việt Nam, hiện tượng này cũng đang trở nên phổ biến với giới trẻ. Họ liên tục thay đổi, liên tục học hỏi, liên tục phát triển và tìm kiếm những cơ hội mới. Hiện tượng này đang diễn ra trong mọi ngành nghề, nhưng với ngành giáo dục, xem ra vẫn còn yên ắng. Một trong những lý do tạo ra sự yên ắng này là chế độ làm việc theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức của giáo viên rất ổn định. Vào công chức xong là coi như có biên chế, có thể đủng đỉnh cho đến lúc về hưu.
Nay với thí điểm bãi bỏ chế độ công chức, viên chức này, thì tôi cho rằng đó là một tiến bộ của ngành giáo dục, cũng lại hợp với xu hướng của xã hội. 
biên chế giáo viên, Đổi mới giáo dục, giáo viên
Giới trẻ Việt Nam đang liên tục thay đổi, liên tục học hỏi, liên tục phát triển và tìm kiếm những cơ hội mới.
Cụ thể hơn, tôi có mấy ý kiến ngắn gọn sau:
1. Thí điểm, rồi tiến tới bãi bỏ biên chế suốt đời, là luật chơi mới của ngành giáo dục. Đã là luật chơi mới, thì cần áp dụng cho mọi công chức, viên chức của ngành, từ bộ trưởng xuống các cán bộ quản lý, các hiệu trưởng, chứ không chỉ giáo viên. Như vậy mới công bằng. Trên nguyên tắc, việc này có thể thực hiện được. Vấn đề còn lại chỉ là kỹ thuật.
2. Nỗi lo nếu bãi bỏ biên chế thì hiệu trưởng sẽ lạm quyền là có thật. Tôi chia sẻ nỗi lo này, khi quyền lực không gắn liền với trách nhiệm. 
Hiệu trưởng hiện giờ quyền lực đã rất lớn, nay được thêm quyền tự ý tuyển dụng thì có thể sẽ phát sinh nhiều tiêu cực nếu không có giám sát và giải trình trách nhiệm. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể tìm ra biện pháp để giải quyết vấn đề này.
Giải pháp phù hợp nhất, theo tôi, là thành lập hội đồng trường, có sự tham gia của giáo viên, phụ huynh, cán bộ quản lý giáo dục, các doanh nhân, nhà khoa học, nhà văn hóa, nghệ sĩ… và cả đại diện học sinh nữa. Hội đồng trường sẽ hoạt động như hội đồng quản trị của trường tư thục, và quyết định việc bổ nhiệm, bãi nhiệm hiệu trưởng nếu không hoàn thành nhiệm vụ hoặc lạm quyền, khuất tất. Như thế, hiệu trưởng cũng phải cạnh tranh, áp lực còn lớn hơn giáo viên ấy chứ.
3. Nỗi lo mất biên chỉ chỉ là nỗi lo của các giáo viên trường công lập. Khối tư thục và quốc tế, có ai có biên chế đâu. Tất cả đều là hợp đồng làm việc theo luật lao động. Vậy mà họ vẫn giảng dạy tốt, hăng say với công việc. 
Vì thế, biên chế không phải là thứ tạo ra chất lượng giáo dục, mà chính việc bãi bỏ chế độ biên chế để tăng sức cạnh tranh, tạo điều kiện cho những giáo viên giỏi tìm được việc làm ở nơi xứng đáng, và những giáo viên trẻ vào được hệ thống thay vì mòn mỏi đợi chờ, mới là giải pháp đúng ở trong dài hạn.
Các cụ đã nói: Thầy già, con hát trẻ. Nếu các thầy cô có tuổi, có biên chế, mà có năng lực thực sự, thì khi bãi bỏ biên chế, đó sẽ là cơ hội để các thầy cô có được nơi làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, vì không còn bị ràng buộc vào luật cán bộ, công chức nữa. Còn nếu những giáo viên/ viên chức ngoài biên chế ra không còn gì khác, năng lực chuyên môn, tư cách đều có vấn đề, thì tốt nhất nên được thay bằng những người trẻ có năng lực. Như thế tốt cho họ, cho người trẻ, và cho cả xã hội. Và cũng chỉ như thế thì nhà giáo mới có thể sống được bằng lương.
4. Lương hưu cũng là một trong những chủ đề của thảo luận. Tuy nhiên, hưu trí là câu chuyện của bảo hiểm xã hội, không phải của biên chế. Những giáo viên tư thục không phải có biên chế, nhưng đóng bảo hiểm xã hội, nên sẽ vẫn có lương hưu.
5. Lo ngại rằng giáo viên vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo… khó khăn đủ thứ, đã chẳng có gì, nay biên chế cũng không có, là không có cơ sở. Đã là vùng sâu vùng xa, những nơi chẳng ai muốn đến, thì cách hành xử công bằng là để họ làm việc có thời hạn, 3 năm chẳng hạn, rồi cho họ về tìm cơ hội tốt hơn. Nếu dùng biên chế để giữ họ ở đó suốt đời thì không phải là ưu đãi, mà thực ra là đang lợi dụng sự hy sinh của họ.
6. Về lâu dài, tôi ủng hộ bãi bỏ biên chế với tất cả các ngành nghề, chứ không chỉ là giáo dục. Một nước chỉ cần khoảng mươi người có biên chế suốt đời là đủ. Đó là ai? Như đã nói ở trên, đó là những thẩm phán của Tòa án Tối cao, những người cần đảm bảo công việc suốt đời sau khi được lựa chọn, để tránh mọi áp lực từ bên ngoài, hầu giữ được tiếng nói độc lập trong cuộc chiến bảo vệ công lý, thẩm định tính hợp hiến của các đạo luật … Ngoài họ ra, tất cả đều nên làm việc theo chế độ hợp đồng có thời hạn.
Hiện nay, Việt Nam hiện có 11 triệu người ăn lương ngân sách. Con số quá lớn. Không ngân sách nào chịu nổi. Vì vậy, tốt nhất là giảm hệ thống cán bộ, công chức này xuống, tiến tới làm việc theo hợp đồng hết. Chứ cứ rung đùi ngồi ôm biên chế, không có cạnh tranh để nâng cao chất lượng, để rồi tặc lưỡi với năng suất lao động chỉ bằng 1/4 Malaysia, 1/15 Singapore, thì đời nào mới tăng được thu nhập, đời nào nhà giáo mới có thể sống được bằng lương.
Khi nhà giáo không sống được bằng lương, mọi cải cách giáo dục trước sau gì cũng sẽ thất bại.
TS. Giáp Văn Dương
---

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Khởi nghiệp sáng tạo đang rất thuận lợi với IoT

Theo TS Giáp Văn Dương – CEO Học viện Khởi nghiệp Việt Nam, chưa bao giờ khởi nghiệp sáng tạo trên nền công nghệ IoT dễ và thuận lợi như bây giờ. Vấn đề còn lại là các bạn trẻ có khả năng thương mại hóa sản phẩm của mình hay không mà thôi.



TS Giáp Văn Dương - CEO Học viện Khởi nghiệp Việt Nam

Trước làn sóng khởi nghiệp sáng tạo trên nền công nghệ IoT, báo Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi cùng TS Giáp Văn Dương - CEO Học viện Khởi nghiệp Việt Nam xoay quanh vấn đề này.

-Thưa ông, trong thời đại công nghiệp 4.0, IoT sẽ có những tác động như thế nào tới mọi mặt của Việt Nam?

-TS Giáp Văn Dương: IoT là viết tắt của chữ “Internet of things” - kết nối vạn vật với nhau để tạo ra một mạng lưới liên thông, chia sẻ và làm việc cùng nhau. Vấn đề đặt ra: Kết nối để làm gì? Kết nối để tạo ra “một thế giới” chung, nhờ đó mà tạo ra sức mạnh, tạo ra giá trị mới mà khi mỗi người, mỗi vật đứng riêng lẻ không có được.

Bằng chứng của sức mạnh có được nhờ kết nối chính là mạng Internet mà chúng ta đang sử dụng. Khi các máy tính kết nối với nhau để tạo thành mạng Internet thì sức mạnh của một máy tính tăng lên gấp bội nhờ khả năng chia sẻ thông tin giữa chúng.

Giờ đây, một người ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cũng có thể truy nhập được vào kho thông tin và tri thức chung của nhân loại nhờ Internet. Sự ra đời của Internet đã tạo ra nhiều ngành công nghệ và kinh tế mới.

Nhưng sự kết nối thành mạng lưới này sẽ không chỉ dừng ở máy tính, mà còn có thể mở rộng ra vạn vật và cả con người, mà IoT là một xu hướng. Với Việt Nam, IoT lại càng trở nên quan trọng bởi nó còn tương đối mới trên thế giới và Việt Nam có thể nhập cuộc được trong khi Internet và các trào lưu công nghệ trước đó, Việt Nam hoàn toàn ngoài cuộc.

Về tác động, có thể hình dung rằng, IoT sẽ giúp Việt Nam tăng năng suất lao động rất nhanh nhờ tự động hóa sản xuất và quản lý, đặc biệt trong các ngành đặc thù như nông nghiệp và bán lẻ. Vấn đề lớn nhất mà kinh tế Việt Nam phải đương đầu chính là năng suất lao động hiện còn quá thấp, thúc đẩy tăng năng suất lao động chính là chìa khóa để Việt Nam phát triển.

Tuy nhiêu, điều này chỉ có thể xảy ra nếu có một nhóm đủ lớn sẵn sàng dấn thân khởi nghiệp để phát triển sản phẩm, phát triển giải pháp, tìm ra thị trường và thương mại hóa sản phẩm của mình. Nhờ đó mà IoT đi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống.


IoT được ứng dụng trong những thiết bị trong hệ thống Nhà thông minh - Ảnh: Thu Anh

-Theo điều tra của Microsoft, giới trẻ Việt Nam đang rất kỳ vọng IoT sẽ thay đổi tương lai của họ. Quan điểm của ông như thế nào trước suy nghĩ này của các bạn trẻ?

-Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định này. IoT sẽ là cuộc chơi mới của giới trẻ. Trong cuộc chơi này, giới trẻ Việt Nam có nhiều cơ hội hơn các cuộc chơi công nghệ trước đó, một phần vì các công nghệ nền tảng đã tạm đủ để triển khai IoT, mặt khác do IoT cũng còn rất mới trên thế giới.

Quan trọng hơn hết, IoT ứng dụng cho rất nhiều hệ thống đặc thù, có tính địa phương như ứng dụng trong nông nghiệp thông minh sẽ cần kiến thức về nông nghiệp, thổ nhưỡng và thời tiết địa phương nên tôi tin một bạn trẻ Việt Nam sẽ làm tốt hơn một bạn trẻ ở Mỹ.

-Theo ông, khi khởi nghiệp sáng tạo trong nền tảng công nghệ IoT, các bạn trẻ thường gặp phải những khó khăn gì và làm thế nào để các bạn trẻ có thể vượt qua được những khó khăn đó?

-Khi khởi nghiệp công nghệ nói chung, các bạn thường gặp nhiều loại rào cản khác nhau. Người xuất thân từ kỹ thuật thì gặp rào cản về quản lý, về bán hàng; người xuất thân từ ngành kinh doanh thì lại gặp rào cản công nghệ; người giỏi một chuyên ngành cụ thể nào đó thì lại không biết thương mại hóa sản phẩm… và khởi nghiệp IoT cũng không ngoại lệ.

Nhưng với sự hỗ trợ của V-SYS logic và phần cứng đi kèm, giờ đây việc lập trình và phát triển các hệ thống IoT trở nên rất đơn giản. Bất cứ người nào cũng có thể học V-SYS trong 1-2 giờ là thành thạo và trợ lý ảo còn giúp cho họ lập trình nhanh hơn. Lúc đó, chỉ cần bạn có ý tưởng, có quy trình, tức biết mình cần phải làm gì và làm thế nào; một bà nội trợ hay một bác nông dân, cũng có thể lập trình cho hệ thống IoT của chính mình.

Tôi cho rằng chưa bao giờ khởi nghiệp sáng tạo trên nền công nghệ IoT lại dễ như bây giờ. Vấn đề còn lại là bạn có khả năng thương mại hóa sản phẩm của bạn hay không mà thôi.


Robot tự sản xuất bằng máy in 3D - Ảnh: Thu Anh

-Trong thời gian tới Việt Nam, TS Timothy Chou có nhận định: "Việt Nam nên đầu tư vào đào tạo kỹ sư phần mềm IoT thay vì đào tạo 1 triệu kỹ sư gia công phần mềm". Quan điểm của ông như thế nào trước nhận định này? Và trong vai trò CEO của Học viện Khởi nghiệp, ông cùng các cộng sự của mình sẽ có những chương trình đào tạo nguồn nhân lực như thế nào cho lĩnh vực IoT?

-Tôi hoàn đồng ý với ý kiến này. Gia công phần mềm là lĩnh vực quá vất vả, lợi nhuận lại rất thấp, rất ít sự sáng tạo. Chỉ có tự phát triển các sản phẩm, các giải pháp công nghệ mới và làm chủ nó thì mới có thể tạo ra giá trị lớn. Trong đó, phát triển các hệ thống IoT là một trường hợp đầy hứa hẹn.

Chính vì thế, Học viện Khởi nghiệp đã chọn IoT là hướng đi chính cho đào tạo công nghệ. Bên cạnh việc đào tạo ra những con người có khả năng làm chủ, thay vì làm công, chúng tôi trang bị công nghệ IoT cho các học viên để họ bước vào thế giới của công nghệ, bước vào công nghiệp 4.0 nhanh nhất và rẻ nhất, cả về thời gian lẫn chi phí.

Với những gì chúng tôi có, cụ thể là ngôn ngữ V-SYS và phần cứng đi kèm, bất cứ một bạn trẻ nào giờ đây, chỉ cần đủ muốn, cũng có thể tự phát triển các hệ thống IoT chỉ sau một khóa học ngắn hạn 2 ngày.

Ngoài ra, chỉ cần người đó có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực mình muốn khởi nghiệp, có quy trình giải quyết vấn đề, hoặc có ý tưởng kinh doanh khả thi, chúng tôi sẽ hỗ trợ và đồng hành cùng người đó.

Khởi nghiệp sáng tạo trên nền công nghệ IoT vì thế, chưa bao giờ thuận lợi như bây giờ.

Thu Anh (thực hiện)
---

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

Bãi bỏ biên chế

Giáp Văn Dương

Năm 2003, tôi là lứa cuối cùng thi công chức và có biên chế trong ngành giáo dục. Lúc đó, tôi mới đi du học về. Vừa trở lại trường thì nhận được tin vui: Chuẩn bị thi công chức để vào biên chế. Đây sẽ là lứa giảng viên cuối cùng có biên chế của nhà trường, còn sau ngày 1/7/2003, giảng viên chỉ có hợp đồng làm việc dài hạn.
Khỏi phải nói là tôi và bạn vui như thế nào. Cảm giác mình là người may mắn. Mấy bạn lứa sau có chút ghen tỵ và thoáng chút buồn. Các thầy quản lý, tuy ngoài miệng vẫn nói hợp đồng làm việc dài hạn và biên chế là như nhau, không có phân biệt gì. Nhưng khi riêng tư, dường như các thầy cũng chia vui cùng chúng tôi. 

Lý do, có lẽ lúc đó các thầy cũng chưa biết khi bỏ biên chế để thay bằng hợp đồng làm việc thì mọi chuyện sẽ ra sao. Có biên chế trong tay, cứ đến ngày đến tháng là lương nhà nước chảy về, chỉ việc ra lĩnh. Nay thay bằng hợp đồng hình như trường phải tự lo? Thời điểm năm 2003 đó, mọi chuyện còn rất mù mờ. 

Rồi tôi cũng đi thi. Và rốt cuộc tôi cũng đỗ. Cầm quyết định trong tay mà thấy rộn ràng. Cảm giác một cái gì đó chắc chắn, một cái gì đó ổn định ùa đến. Có biên chế, nghĩa là có công ăn việc làm ổn định, nghĩa là có hộ khẩu, nghĩa là chính thức trở thành giảng viên một đại học lớn. Lúc đó lại đã lập gia đình và có con đầu lòng. Cơ sở hạ tầng coi như xong. Giờ chỉ cần tập trung vào công việc là cuộc đời sẽ ổn. 

Biên chế đối với tôi lúc đó thực sự là một cái gì đó rất ý nghĩa. Nhưng ý nghĩa của biên chế không chỉ như vậy. Chỉ 6 tháng sau tôi lại khám phá ra một ý nghĩa khác hẳn. Không phải là sự ổn định an toàn, mà là sự phiền phức quá mức cần thiết. Nếu lần đi du học trước, tôi chỉ có hợp đồng làm việc với nhà trường, việc xin đi du học khá dễ dàng. Thì lần này, vì là người nhà nước, vì có biên chế, nên việc đi học hóa ra vô cùng phức tạp. 

Cơ quan quản lý tôi bây giờ không phải là nhà trường nơi tôi làm việc, mà là Vụ tổ chức cán bộ của Bộ giáo dục. Muốn đi học, phải được vụ này duyệt trước, rồi sau đó trình lên lấy chữ ký của thứ trưởng. Trước đó, để hồ sơ ra được khỏi trường, tôi phải có được 6 chữ ký của quản lý các cấp tại trường. Sau đó lại phải có được 2 chữ ký ở trên Bộ nữa. 

Hành trình đó, ai trải qua mới biết nó là gì. Tờ đơn xin đi học của tôi vì thế đỏ rực chữ ký và các con dấu. Tôi ở Hà Nội còn đỡ, chứ lên bộ, thấy các anh chị ở Miền Trung, Miền Nam ra ăn trực nằm chờ rất tội. Ngày nhập học đã đến gần, mà vẫn chưa được ký, quyết định không biết khi nào mới có. Nhiều người đành chọn nước đánh liều đi trước cho kịp lịch, còn hồ sơ ở nhà làm sau. Có khi đi học được nửa năm thì quyết định cử đi học mới về tới trường. 


Rồi khi đi học cũng chưa thoát khỏi sự phiền phức của biên chế. Học bổng thì trường cấp năm một tùy theo kết quả học tập, nên mỗi năm lại phải về nhà gia hạn một lần. Lại hành trình xin 8 chữ ký và ngần đó thủ tục phải đi qua. Vừa xong thủ tục năm nay được vài tháng, chưa kịp làm gì thì lại phải nghĩ đến chuyện xin gia hạn cho năm sau nữa. Nói chung là mệt.

Lúc đó tôi chỉ ước sao mình chưa vào biên chế cho đỡ vất vả. Khi nào học xong thì thi tuyển vào trường lại từ đầu. 

Rồi việc học cũng xong. Nhưng câu chuyện về biên chế lại một lần nữa xuất hiện khi tôi phải đưa ra lựa chọn: Tiếp tục làm giảng viên đại học, hay phưu lưu cùng những dự định của riêng mình? 

Tôi đã chọn phưu lưu cùng những dự định của riêng mình, một phần vì cơm áo gạo tiền, nhưng phần quan trọng hơn vì những câu hỏi tôi của tôi đến lúc đó vẫn chưa có lời giải đáp. Những câu hỏi đó thoạt nghe rất đơn giản, như “Tôi là ai? Học để làm gì? Ý nghĩa cuộc sống là gì?” hóa ra cần rất nhiều thời gian để trả lời. Nhiều hơn rất nhiều so với những câu hỏi về chuyên môn. Lúc đó, tôi thậm chí còn chưa biết khi nào mới trả lời được. 

Nhưng phải thú thật, khi rời trường, ngoài thầy cô bạn bè thì một trong những điều tôi tiếc chính là biên chế. Lúc đó, tôi có 8-9 năm đóng bảo hiểm xã hội. Học hành cũng đã xong xuôi. Vậy mà chọn từ bỏ để đi một con đường khác, quả thật không dễ. 

Sau này nhìn lại, tôi phát hiện ra rằng, việc bỏ biên chế khó vì biên chế không nằm trên một tờ giấy, mà biên chế nằm ở trong đầu. Bỏ biên chế tức là bỏ quan niệm có một công việc ổn định suốt đời ở trong đầu mình. Cái cảm giác ổn định, yên tâm lại có phần quan trọng vì là người nhà nước đó nó rất quyến rũ. Vì thế mà bỏ nó vô cùng khó. 

Chính vì đã đi qua những cung bậc này rồi, nên tôi rất thông cảm với những người phải đối mặt với việc có nên bỏ biên chế hay không? Đặc biệt là những người đã có chút thâm niên, hoặc những người thích một cuộc sống ổn định. Nhưng cũng nhờ bước ngoặt này mà tôi bước ra một đời sống mới, sôi động và tràn đầy sức sống. 

Vì thế, khi thấy những bạn trẻ, học xong chỉ nhăm nhắm chạy vào nhà nước bằng mọi giá, thì tôi lại cảm thấy rất thương. Cuộc sống sôi động là thế, nhiều thử thách là thế, mà cũng nhiều cơ hội là thế, mà lại không khám phá. Nếu chọn vào nhà nước để cống hiến thì không nói làm gì. Nhưng nếu chỉ để có được sự yên ổn thì quả thực sai lầm. 

Chui vào nơi ổn định không có cạnh tranh là cách nhanh nhất để thui chột chính mình. Mà lương nhà nước theo thang bậc thì bao giờ cũng thấp. Nếu cứ thẳng ngay thì không biết sống thế nào. Mà xoay xở thì có khi soi gương lại thấy xấu hổ. Chưa kể bộ máy ăn lương ngân sách đã quá lớn, mỗi ngày lại mỗi phình to, nay đã lên đến 11 triệu người, đang quá ngưỡng chịu đựng, thì ra ngoài làm việc để không ăn lương ngân sách cũng đã là đóng góp cho đất nước. 

Có lần, một bạn trẻ hỏi tôi, vì sao người ta nói ở nước ta có một nghịch lý: Ai cũng có việc nhưng không ai làm việc, không ai làm việc nhưng ai cũng có lương; ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống; không ai đủ sống nhưng ai cũng sống; ai cũng sống nhưng không ai hài lòng; không ai hài lòng nhưng ai cũng giơ tay đồng ý? 

Tôi trả lời vắn tắt: Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc là vì biên chế. Không làm việc nhưng vẫn có lương cũng là vì biên chế. Lương không đủ sống vì không ai làm việc nên năng suất lao động thấp, biên chế lại ăn lương ngân sách, ngân sách chỉ có vậy, nên lương chỉ có vậy. Lương chỉ có vậy nên chỉ làm như vậy, tất nhiên sẽ không ai hài lòng. Không hài lòng nhưng vẫn phải đồng ý vì nếu không sẽ mất biên chế. Thế là chẵn một vòng tròn luẩn quẩn khép kín. 

Tôi cũng nói thêm với các bạn rằng, mấu chốt của một nghề nghiệp có ý nghĩa là người làm việc phải sống được bằng lương và phải cảm thấy tự hào về nghề nghiệp của mình. Nhưng với thang bậc lương từ ngân sách như hiện nay, không ai sống được bằng lương, nên để có thêm thu nhập thì phải “chân trong chân ngoài”, phải “vẽ thêm việc”, phải “cấu véo”, phải “hành là chính . Trong hoàn cảnh đó người ta rất dễ đánh mất mình, đánh mất lòng tự trọng. Cái dở nhất của biên chế không chỉ làm cho người ta sống dở chết dở với mức lương còm cõi, mà còn là sản sinh ra rất nhiều người không có lòng tự trọng. 

Chính vì thế, tôi luôn khuyến khích những bạn trẻ hay đi ra bên ngoài làm việc, vào khu vực tư nhân, vào khu vực nước ngoài, hoặc tự khởi nghiệp, để giảm sức nặng cho ngân sách nhà nước, để có cạnh tranh, để đối mặt với thử thách. Nơi nào có thử thách, nơi đó có cơ hội. Thử thách càng lớn, cơ hội càng cao. 

Tôi thậm chí thi thoảng còn bông đùa: Với các bạn có năng lực, chạy được vào nhà nước chỉ để yên ổn cho đến ngày nhận sổ hưu thì chưa chắc đã là thành công. Có thể, đó lại là thất bại lớn nhất của cuộc đời các bạn. 

Đó là lý do vì sao tôi luôn ủng hộ việc bãi bỏ biên chế, bãi bỏ chế độ làm việc không thời hạn ở khu vực công, để chuyển qua chế độ hợp đồng nhằm tăng sức cạnh tranh, ở tất cả các ngành nghề. 

Tôi quan sát thấy, trên thực tế, với mỗi quốc gia, chỉ cần rất ít những người có biên chế trọn đời. Đó là ai? Đó là những Thẩm phán của Tòa án Tối cao, những người cần được tránh mọi sức ép từ bên ngoài, trong đó có sức ép về việc làm, để giữ được tiếng nói độc lập trong việc bảo vệ công lý, thẩm định các đạo luật... 

Nhóm này thường không đến mười người. Ngoài ra, ở một số nước, các giáo sư đại học rất giỏi cũng thường có biên chế, nhưng đó là biên chế với nhà trường. Mục đích là để họ tránh sức ép mất việc mà bảo vệ tự do học thuật. Nhưng bảo vệ học thuật ở Việt Nam là chuyện xa xỉ. Mà thời đại này, nếu đã là giáo sư rất giỏi, thì cơ hội làm việc hóa ra lại rất nhiều. 

Thành ra, nếu đi đến tận cùng, thì số người cần biên chế của một nước chỉ chưa đến mươi người. Còn lại có thể chuyển sang làm việc ở chế độ hợp đồng hết. Ngay cả nguyên thủ và các bộ trưởng làm việc cũng có nhiệm kỳ, tức cũng là một dạng hợp đồng. Chỉ khi nào làm được như thế, sức sống của sự cạnh tranh mới thắng được sự ù lì vì tâm lý thích ổn định. 

Nếu làm được việc đó, gỡ bỏ biên chế và chế độ làm việc trọn đời ở tất cả các ngành nghề và cấp bậc, thì Việt Nam không chỉ giảm tải gánh nặng ngân sách, tức giảm tải cho dân đóng thuế, mà còn nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 

Ngoài ra, việc bãi bỏ biên chế này còn giải quyết được một vấn đề rất đặc thù khác của Việt Nam. Đó là những quan chức có năng lực yếu kém, nhưng vì có biên chế nên không thể đuổi việc, vì người sử dụng lao động, người quản lý lao động và người trả lương là khác nhau. Do đó, chỉ có thể sắp xếp lại và luân chuyển. Mà đã luân chuyển thì người ta có nhiều quy trình mẹo mực để chỉ chuyển ngang, hoặc chuyển lên, chứ ít ai chịu chuyển xuống. Còn nếu không chuyển được thì đành phải dồn vào một chỗ để chờ ngày nhận sổ hưu. Thế là tạo ra một vòng luẩn quẩn, một bộ máy nhân sự kém chất lượng tù đọng không thể thanh lọc.

Chưa kể, trước khi về hưu, mỗi quan chức lại tranh thủ bổ nhiệm họ hàng tay chân phe cánh như báo chí đã nêu, tạo ra một ma trận nhân sự yếu kém giằng díu lẫn nhau, tồn đọng từ đời lãnh đạo này sang đời lãnh đạo khác. Người lên sau không thể gỡ bỏ, vì họ đều đã vào biên chế. Vì thế, nếu bãi bỏ biên chế thì vấn đề tưởng chừng không thể gỡ được này, bỗng nhiên lại có thể gỡ được. 

Năng suất lao động của Việt Nam hiện rất thấp, chỉ bằng ¼ Malaysia, 1/15 của Singapore. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng có một nguyên nhân quan trọng, là vì hiện có quá nhiều người ăn lương ngân sách, quá nhiều người bám vào biên chế, chấp nhận mức lương èo uột không đủ sống, và coi điều đó như một sự thành công. Nếu không thay đổi thì tình hình sẽ ngày càng ảm đạm khi ngân sách càng ngày càng cạn kiệt. 

Do đó, nếu dũng cảm xóa bỏ biên chế ở tất cả các ngành nghề và cấp bậc, thì bài toán bùng nhùng “khi nào sống được bằng lương” và “năng suất lao động quá thấp” bỗng nhiên có lời giải.
---

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Cà phê Thứ Bẩy: Tôi là ai?

Chủ đề: “TÔI LÀ AI?”
Diễn giả: Giáp Văn Dương
Chủ trì: Nguyễn Quang Dy

Lời dẫn

Khi bạn không biết học để làm gì thì học trường nào mà chẳng được!

Khi bạn không biết sống để làm gì thì sống thế nào mà chẳng xong!

Trên hành trình của đời mình, nếu bạn không trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” thì bạn đang giống như người lữ hành vừa không biết đích đến, lại vừa không biết được vị trí hiện thời của mình. Khi đó, mọi cố gắng của bạn sẽ trở nên vô nghĩa.

Vì thế, trả lời được những câu hỏi nhân sinh cơ bản, như: “Tôi là ai? Người tôi muốn trở thành là gì? Ta sẽ làm gì với cuộc đời mình?…” lại trở thành điều quan trọng nhất để có thể sống một cuộc đời hạnh phúc, thành công và có ý nghĩa.

Trong khuôn khổ của buổi Cà phê Gặp gỡ & Đối thoại này, diễn giả sẽ cùng chúng ta bước đi những bước đầu tiên để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?” này.

---
Thời gian: 14h30 chiều thứ bảy, 03/06/2017

Địa điểm: số 3A Ngô Quyền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội,

Chương trình:
+ 14h30-15h00: Cà phê, gặp gỡ, làm quen.
+ 15h00-16h00: Phần trình bày của diễn giả.
+ 16h0-17h0: Trao đổi giữa diễn giả và khách mời

Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

Triết lý giáo dục cho thời đại mới

Giáp Văn Dương

Triết lý giáo dục là gì mà suốt mấy chục năm nay, lúc nào cũng như đống lửa âm ỉ, chỉ chờ gặp gió là bùng lên. Mà ngọn gió đó có thể là bất cứ một thứ gì liên quan đến giáo dục. Lần này thì đó là Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông Tổng thể mà Bộ giáo dục đang đưa ra để lấy ý kiến. 

Một cách ngắn ngọn, triết lý giáo dục là một phát biểu ở tầm tư tưởng, nhưng cô đọng súc tích, thường chỉ trong một câu, để ai cũng thấu hiểu và thực hiện được. Nhờ đó, triết lý giáo dục trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động dạy và học, và rộng hơn là mọi hoạt động liên quan phát triển con người. 

Triết lý giáo dục vì thế không nằm ở đâu xa, mà ở ngay ở sản phẩm đầu ra của hệ thống giáo dục, tức ở những con người mà hệ thống giáo dục đó tạo ra. Nói cách khác, triết lý giáo dục sẽ được tìm thấy trong việc trả lời câu hỏi mấu chốt nhất: Hệ thống giáo dục hướng đến việc đào tạo con người nào?

Một hành trình không có đích đến sẽ quẩn quanh mất phương hướng. Một hệ thống không có mục tiêu tường minh về đầu ra sẽ hỗn loạn không thể vận hành. 

Vì tầm quan trọng như thế, triết lý giáo dục không chỉ là tư tưởng định hướng, mà còn là hồn cốt thần sắc của cả hệ thống giáo dục đó. Dựa vào triết lý giáo dục mà toàn bộ hệt thống giáo dục cũng như các hoạt động của nó được thiết kế, vận hành và điều chỉnh. 

Vì là hồn cốt thần sắc, triết lý giáo dục sẽ tự động hiện ra cho tất cả những người liên quan thấy. Khi đó, chúng ta sẽ thấy được triết lý giáo dục, cảm được triết lý giáo dục, thấu hiểu được triết lý giáo dục ở mức rất tinh tế sâu xa, từ học sinh đến giáo viên, đến các bậc phụ huynh trong nhà, chứ không phải chỉ các chuyên gia mới hiểu được. 

Nói cách khác, khi đã có triết lý giáo dục nó sẽ hiện ra một cách rất tự nhiên, và hiện hữu trong mọi hoạt động liên quan đến giáo dục theo cách nhất quán. Tự nhiên và nhất quán, như hơi thở, trong mọi hoạt động của hệ thống giáo dục. 

Như vậy nếu đã là triết lý giáo dục thì từ học sinh đến giáo viên, từ ông bố bà mẹ trong nhà đến nhà chuyên môn ở trong việc nghiên cứu, đều phải thấm nhuần và thấu hiểu theo cùng một cách. Triết lý giáo dục khi đó sẽ hiện diễn như là chuyện thường ngày trong sinh hoạt chuyên môn ở nhà trường và bữa tối trong gia đình. 

Nếu không phải là như thế, thì những phát biểu hoặc nghiên cứu nào đó về giáo dục, dù công phu tỉ mỉ bao nhiêu đi chăng nữa, cũng không phải là triết lý giáo dục, mà là triết học về giáo dục, hoặc những nghiên cứu chuyên ngành giáo dục học. 

Để được như vậy, triết lý giáo dục đòi hỏi phải được phát biểu tường minh và thuyết phục từ chính Bộ giáo dục. Nếu không, nó sẽ không có được tính chính danh để trở thành tư tưởng điều hành chung cho cả hệ thống. Triết lý giáo dục khi đó sẽ trở thành triết lý chui. Ai cũng cảm nhận được, nhưng không ai có thể gọi tên hoặc dám gọi tên. 

Giờ nhìn lại lịch sử giáo dục Việt Nam ta thấy, trong nền giáo dục Nho giáo, triết lý giáo dục được gói gọn trong một hình dung rất rõ ràng về sản phẩm đầu ra, đó là: Đào tạo người quân tử để làm quan. Chính nhờ triết lý này mà hệ thống giáo dục Nho giáo tồn tại được hơn hai nghìn năm. Chỉ đến khi hình mẫu về người quân tử, tức sản phẩm đầu ra của hệ thống này, không còn phù hợp với thời đại mới, thì hệ thống giáo dục này mới sụp đổ. 

Nhưng kể từ ngày giành độc lập năm 1945 đến giờ, triết lý giáo dục của Việt Nam lại chưa bao giờ được phát biểu tường minh và súc tích như thế trong cách lần cải cách giáo duc, ngoại trừ một phát biểu chính thức trước đây và vẫn còn phảng phất đâu đâu: Đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng con người mới xã hội chủ nghĩa là con người nào thì không ai biết, vì "đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa".

Câu chuyện về triết lý giáo dục vì thế rơi vào bất định. Phát biểu chính thức gần đây nhất là vào tháng 4/2017 của cựu Bộ trưởng Bộ giáo dục Phạm Vũ Luận: Triết lý giáo dục của Việt Nam là Nghị quyết 29 của Trung ương. Nghị quyết này dài hơn 7000 từ. 

Nhưng Nghị quyết 29 là gì, nội dung của nó ra sao, các học sinh không biết, bác bảo vệ không biết, thầy cô đa phần không biết, các phụ huynh cũng không biết nốt. Nghị quyết 29, dù nội dung của nó hay như thế nào đi chăng nữa, nhưng với hình thức dài dòng như thế, không có cách nào đi vào phòng học và bữa cơm tối của các gia đình để hiện hữu một cách tường minh, nhất quán và tự nhiên như hơi thở. 

Nghị quyết 29 vì thế, nếu chỉ xét về mặt hình thức, không thể nào là một triết lý giáo dục, theo cách hiểu đó phải là một phát biểu ngắn gọn trong một câu nhưng lại mang tầm vóc của một tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt cho sự vận hành của một hệ thống giáo dục. 

Không hài lòng với việc cho rằng triết lý giáo dục của chúng ta là Nghị quyết 29, ngay sau đó tôi đã viết một bài báo có nhan đề “Gọi tên triết lý giáo dục”. Bài báo đó được viết dựa trên những phân tích và trải nghiệm của cá nhân tôi để đi đến một kết luận rằng: Nền giáo dục hiện thời có triết lý giáo dục chứ không phải là không có. Tuy rằng, nó chưa bao giờ được phát biểu tường minh. Vậy triết lý giáo dục đó là gì? Đó chính là: Đào tạo con người công cụ.

Đọc đến đây, bạn đừng cảm thấy bất ngờ hay bực mình vì nhận định quá ư phũ phàng này. Hãy chùng lại và dành một phút để ngẫm về toàn bộ chặng đường giáo dục mình đã đi qua, bạn sẽ thấy mình đã và đang được tạo ra như một con người công cụ, nhằm đáp ứng một nhu cầu, phục vụ một hệ thống và một mục tiêu định trước. 

Trong suốt cuộc đời đi học của mình, chúng ta luôn được dạy theo cách hiểu, biết và hành xử trong một khuôn mẫu định sẵn. Khác đi là không được. Khác đi là phải trả giá. Dù luôn kêu gào sáng tạo, không sáng tạo là chết, nhưng bạn hãy thử sáng tạo trong cách học, cách thi, cách hiểu, cách diễn giải thử xem, bạn sẽ phải trả giá ngay tức khác. Lúc học thì tất cả đều phải nằm trong khuôn khổ của sách giáo khoa và sách giáo viên, trong những khuôn mẫu đã định sẵn. Lúc thi thì phải nhuẫn nhuyễn đề cương, vào phòng thi chỉ giống như chép lại bài đã học lòng. Lệch tủ là chết. Lỡ quên là không biết xoay sở ra sao. 

Chiến tranh liên miên trong mấy chục năm gần đây, nơi sự tuân thủ được đặt lên hàng đầu, là môi trường thuận lợi để con người công cụ phát huy tác dụng. Điều này làm cho việc đào tạo con người công cụ có vẻ hợp lý và được việc mà không hề bị chất vấn đến nơi đến chốn. Nền văn hóa truyền thống đề cao trật tự và sự tuân thủ một chiều cũng góp phần làm cho vấn đề trở nên trầm trọng.

Nhưng nay trước thách thức phải đổi mới, đặc biệt khi cách mạng công nghiệp 4.0 đang sầm sập tới, việc đào tạo con người công cụ phải bị chất vấn và loại bỏ. Nếu không, những học sinh của chúng ta sau 10-20 năm nữa, khi ra trường sẽ phải cạnh tranh nổi với các rô-bốt và trí tuệ nhân tạo. Phần thua của những con người công cụ sẽ là cầm chắc trong tay. Vì sao? Vì với tốc độ phát triển của công nghệ hiện giờ, cạnh tranh làm công cụ với máy móc thì không có cách nào có thể thắng được. 

Những ngành nghề thâm dụng lao động không còn. Những dây chuyền tự động hóa chạy bằng cơm lúc đó cũng biến mất. Trong nhà máy, các cánh ray rô-bốt sẽ đảm nhiệm phần lớn công việc. Ô tô có thể tự lái. Máy tính tự học. Những con ngươi công cụ không có khả năng sáng tạo, chỉ biết dập khuôn trong những điều đã được dạy, những điều lạc hậu ngay trong lúc mình được dạy, sẽ phải làm gì trong hoàn cảnh đó? Và ai sẽ chịu trách nhiệm trước hiện trạng đó, nếu không phải là những người đang giữ quyền ban ra các quyết sách hiện thời?

Vậy nên, trước khi thực hiện bất cứ một cuộc cải cách giáo dục nào, hãy một lần sòng phẳng nhìn thẳng vào triết lý giáo dục để gọi đúng tên và chất vấn sự đúng đắn của nó, để từ đó lựa chọn một triết lý giáo dục mới, phù hợp hơn cho thời đại mới. 

Những quan sát, nghiên cứu và trải nghiệm của cá nhân tôi cho thấy, dù chưa bao giờ được phát biểu tường minh, thì triết lý giáo dục của hệ thống giáo dục hiện thời là đào tạo con người công cụ. Tinh thần này luôn hiển hiện ra như một tư tưởng ngầm nhưng giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động dạy và học của hệ thống giáo dục hiện thời.

Nay tình thế đã thay đổi. Con người công cụ không còn đất sống trong thời đại công nghiệp 4.0 đang ập đến. Chỉ có những con người tự do, những con người sáng tạo, những con người có khả năng tạo ra nhu cầu thay vì đáp ứng nhu cầu, mới có khả năng tự làm chủ và tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, và đo đó mới có thể tồn tại trong thời đại mới. 

Muốn thế, thay vì đào tạo con người công cụ, nến giáo dục phải chuyển hướng sang đào tạo con người tự do. Khi đó, con người sáng tạo, con người làm chủ sẽ tự nhiên xuất hiện. 

Vì lẽ đó, triết lý giáo dục của thời đại mới sẽ được phát biểu trong một câu ngắn gọn: Con người tự do là đích đến của giáo dục. 

Chừng nào chưa đạt được điều đó thì cải cách giáo dục còn rơi vào bế tắc. 
---