Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

Khởi nghiệp chính trị

  • GIÁP VĂN DƯƠNG
  • 26.01.2017, 04:28

Khởi nghiệp chính trị
Ảnh: Pinterest
Việt Nam không ngoại lệ trong trào lưu khởi nghiệp toàn cầu dấy lên vài năm gần đây. 2016 được chọn là Năm quốc gia khởi nghiệp. Làn gió mới đầy hứng khởi ấy tràn qua nhà nhà, người người với nhiều kỳ vọng lớn lao của cả người trong và ngoài cuộc.
Từ một hiện tượng
Nhưng nếu quan sát kỹ hơn, ta sẽ thấy phong trào khởi nghiệp này diễn ra chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh - công nghệ, luôn gắn với việc sử dụng công nghệ để tạo ra những sản phẩm mới, dịch vụ mới, hoặc những mô hình kinh doanh mới “nhanh - nhiều - tốt - rẻ” hơn so với các sản phẩm hoặc mô hình tương ứng đã có.
Khởi nghiệp mặc nhiên được coi là chuyện của giới kinh doanh - công nghệ. Cho đến khi ông Donald Trump xuất hiện...
Thành công của ông Trump trong kỳ bầu cử Mỹ vừa qua làm ta không khỏi liên tưởng đến phong trào khởi nghiệp đang dâng cao, chỉ có điều đây là khởi nghiệp trong lĩnh vực chính trị, chứ không phải trong lĩnh vực kinh doanh - công nghệ như thường thấy.
Ông ta đã tạo ra một cách thức vận động bầu cử rất riêng, nói theo ngôn ngữ của dân khởi nghiệp là tạo ra mô hình kinh doanh mới, hiệu quả hơn so với các mô hình đã có.
Một mình ông Trump chống lại cả giới truyền thông chính thống và giới học giả tinh hoa để cán đích, tương tự những công ty một người đương đầu với các đế chế kinh doanh khi khởi nghiệp.
Một mình ông Trump miệng nói tay tweet, làm điên đảo cả giới truyền thông Mỹ, đến mức có cảm giác cả cỗ máy truyền thông Mỹ đều chạy theo những dòng tweet đó mà vẫn bị hụt hơi...
Nhờ sử dụng các công cụ và công nghệ mới này, chiến dịch truyền thông của ông Trump trở nên vô cùng hiệu quả.
Big Data (khoa học dữ liệu lớn) cũng có ảnh hưởng quyết định đến chiến thắng của ông Trump. Chính các phân tích dữ liệu lớn của Công ty Cambridge Analytica đã giúp ông Trump có những thay đổi ngoạn mục trong vận động tranh cử của những ngày cuối, tức đến những bang không ai nghĩ ông Trump sẽ đến, để lật ngược thế cờ.
Cuộc bầu cử Mỹ vì thế còn là cuộc chiến của hai hình thức truyền thông và hai công ty phân tích dữ liệu lớn.
Sự đổi thay tất yếu
Các thể chế kinh tế - chính trị hiện thời được thiết kế để vận hành cho các xã hội công nghiệp và tiền công nghiệp. Nền giáo dục hiện thời cũng là nền giáo dục hướng đến phục vụ của xã hội công nghiệp. Khi thiết kế các thể chế đó, không ai nghĩ đến viễn cảnh cả thế giới kết nối với nhau 24/7.
Công nghệ ngày càng trở nên quan trọng, ảnh hưởng đến hành vi và lối sống của bất kỳ ai trên Trái đất này. Những công nghệ này vượt ra biên giới của các thể chế kinh tế - chính trị hiện thời.
Twitter và Facebook đã có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả bầu cử tổng thống Mỹ, khi cho phép các thông điệp tranh cử được chạy dưới dạng quảng cáo hướng mục tiêu một chương trình quảng cáo thương mại đơn thuần.
Điều này những nhà lập pháp Hoa Kỳ đã không hình dung đến. Nhờ vậy, ông Trump đã truyền tải được thông điệp của mình nhanh nhất và rẻ nhất đến những người ủng hộ tiềm năng.
Kết hợp với Big Data, chiến dịch truyền thông của ông Trump trên mạng xã hội càng hiệu quả khi cho phép cá nhân hóa các thông điệp truyền tải, gần như đến mức ai thích kiểu nào thì ông Trump chiều kiểu đó.
Sử dụng tư duy tiếp thị vào các chiến dịch chính trị tương tự như cuộc bầu cử này, một xu hướng mới trong vận động chính trị đã ra đời, đó là tiếp thị chính trị (political marketing). Nhưng đã là tiếp thị thì thế nào cũng gắn với kinh doanh.
Vậy phải chăng chính trị đã trở thành một ngành kinh doanh công khai? Nếu vậy, trong ngành kinh doanh này, công nghệ ngày càng giữ vai trò quan trọng.
Điều này dẫn đến việc các doanh nhân công nghệ, rộng hơn là các doanh nhân, ngày càng có ảnh hưởng lớn đến chính trường. Các chủ tịch và CEO của những tập đoàn lớn ngày càng hành xử giống các chính trị gia.
Nội các của ông Trump phần lớn là các triệu phú và tỉ phú. Ban cố vấn kinh tế của ông Trump có mặt rất nhiều CEO của các tập đoàn công nghệ hàng đầu nước Mỹ.
Sự xâm nhập của công nghệ vào chính trị ngày càng trở nên rõ ràng. Nhờ đó, việc sử dụng công nghệ để khởi nghiệp chính trị bỗng trở nên khả thi như trường hợp của ông Trump.
Khi sử dụng công nghệ, ngay cả những tin đồn, hoặc những tin tức không kiểm chứng có khả năng lây lan rất nhanh trên mạng xã hội, cũng là một nhân tố quan trọng cho một chiến dịch chính trị.
Việc cá nhân hóa thông điệp chính trị với sự hỗ trợ của Big Data và marketing bỗng trở thành khả thi. Khi đó, mỗi khách hàng chính trị sẽ có thông điệp chính trị mà họ muốn, do các chuyên gia chế biến và cá nhân hóa cho vừa khẩu vị.
Khi đó, chính những thuật toán phân tích và những máy tính được trang bị trí tuệ nhân tạo, những chuyên gia chế biến thông tin... là kẻ quyết định trong việc chọn ra người đứng đầu của một quốc gia, hoặc định hình cả một thể chế kinh tế chính trị - xã hội, chứ không phải những giá trị nhân văn hay những chính sách kinh tế - xã hội của các ứng viên.
Hiện còn quá sớm để nói đó là vinh hay họa, nhưng một sự thay đổi về cách thức chính trị vận hành là rõ ràng.
Vấn đề đặt ra: Nếu coi ông Donald Trump là một mô hình khởi nghiệp chính trị thì liệu mô hình này có lan ra khắp thế giới? Các thể chế kinh tế - chính trị hiện thời sẽ phải thay đổi ra sao với sự xuất hiện của hiện tượng khởi nghiệp chính trị, với vai trò ngày càng quan trọng của công nghệ này?
Liệu có một ngày chính những thuật toán của trí tuệ nhân tạo sẽ thay ta chọn ra người lãnh đạo và do đó là thể chế kinh tế - xã hội tương ứng? Và xa hơn, chúng ta phải sống thế nào trong một thời đại như thế?
Sẽ là quá sớm để đưa ra bất cứ câu trả lời nào vào thời điểm này. Nhưng có một điều chắc chắn thay đổi sẽ đến sớm, trong đó kinh doanh và công nghệ sẽ chi phối ngày càng lớn đến chính trị.
Chỉ có điều chưa biết được về dài hạn điều này là tốt hay xấu, là nâng đỡ con người hay hủy hoại con người. Nếu khởi nghiệp trong kinh doanh - công nghệ thất bại thì chỉ ảnh hưởng đến một nhóm người.
Còn khởi nghiệp chính trị thất bại thì ảnh hưởng đến một quốc gia. Sự xuất hiện của ông Trump là may mắn, hay tai họa cho nước Mỹ và rộng hơn là cho cả thế giới ta cũng chưa biết.
Dù kịch bản nào xảy ra đi chăng nữa thì chưa bao giờ nhân tính và các giá trị nhân văn trở nên quan trọng như bây giờ.
Thay đổi nào nuôi dưỡng nhân tính, bảo vệ nhân văn, phát triển con người sẽ được đón nhận như một cơ hội. Ngược lại, thay đổi hoặc không hề thay đổi, chống lại nhân tính, phá hủy nhân văn, chà đạp con người sẽ trở thành tai họa chung cho tất cả.■
---

    Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

    Gia giáo và thân giáo

    Giáp Văn Dương

    Ngày nhỏ, khi còn sống ở quê, cứ mỗi khi trong nhà có người đến tuổi dưng vợ gả chồng, tôi lại thường xuyên nghe ông bà chú bác của mình bình luận về người phối ngẫu tương lai cho con cháu mình. Trong những cuộc trao đổi như thế, tiêu chuẩn mạnh nhất để chọn người lại không nằm ở sự giàu có hay thông minh tài sắc, mà hay kết ở một câu giản dị: Con nhà gia giáo.

    Mà cũng ngạc nhiên không kém, khi đã viện dẫn đến “con nhà gia giáo” thì mọi ý kiến khác đều tắt ngúm. Cứ như “con nhà gia giáo” là tiêu chuẩn cao nhất, không còn gì có thể sánh bằng.

    Nếu tỉ mẩn mà suy ngẫm thêm thì lại càng ngạc nhiên hơn nữa, chọn người phối ngẫu mà lại đặt hết niềm tin vào mấy chữ “con nhà gia giáo”, chứ không phải chính người được chọn. Nhiều bậc ông bà chưa biết mặt mũi dâu rể tương lai ra sao, chỉ cần người mai mối nói con nhà nọ cháu nhà kia, và bồi thêm một câu “con nhà gia giáo” là coi như xong, chuẩn bị trầu cau sắm hỏi nếu là nhà trai, hoặc âm thầm gật đầu nếu là nhà gái.

    Tất nhiên, việc này thường diễn ra ở khâu hỏi ý kiến. Còn hai đương sự đã âm thầm tìm hiểu nhau trước đó. Nhưng bằng các kỹ thuật bàn ra tán vào, cộng với lý thuyết tối giản “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, thì kết quả cuối cùng hết sức giằng co. Dù thế nào đi nữa, con nhà gia giáo cũng là một luận chứng vô cùng mạnh mẽ. Bên nào có nó cũng có thể thắng dễ dàng, còn không có nó thì gần như nắm chắc phần bại trong tay, mà nếu không thì cũng phải trầy vi tróc vẩy.

    Giờ trưởng thành nhìn lại chuyện xưa với con mắt khác, rằng sao chuyện con nhà gia giáo lại quan trọng như vậy. Mấy nghìn năm kinh nghiệm giáo dục của người xưa xem ra chỉ đọng lại trong mấy chữ đó thôi. Có nó thì được coi là người có giáo dục, mà thiếu nó thì coi như bỏ đi không xét đến.

    Chuyện bỗng trở thành nghiêm trọng. Nói chuyện giáo dục bao giờ cũng là chuyện nghiêm trọng. Thế nào là có giáo dục, thế nào là không, lại càng nghiêm trọng hơn nữa.

    Hẳn nhiên ngày đó trường lớp ít, nhìn người lớn trong làng thì thấy số người được theo học hết phổ thông trong làng tôi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Số người vào đại học lại càng ít hơn nữa. Học hết lớp 7, tương đương cấp hai hiện giờ, dường như là đích đến phổ biến. So với ngày nay, tình trung bình thời gian đi học ở trường chắc chỉ bằng một nửa.

    Trong hoàn cảnh đó, giáo dục phải trông cậy phần lớn vào giáo dục trong gia đình, nên “con nhà gia giáo” trở thành một tiêu chuẩn để phân biệt người có giáo dục hay không.

    Lập luận này có vẻ logic, nhưng nó để lại chút băn khoăn, không lẽ mấy năm đến trường không để lại dấu vết gì. Trong những năm đó, tôi chưa bao giờ nghe đến chuyện cô này cậu kia học hết lớp mấy như một tiêu chuẩn, mà chỉ đơn thuần là “con nhà gia giáo”.

    Giờ về lại làng xưa, tụi nhỏ giờ đều học hết cấp ba, sau đó phần lớn thì đi học nghề hoặc làm công nhân, một số kha khá đi đại học. Việc yêu đương cưới xin không còn bó hẹp trong làng xã như xưa nữa. Nhưng trong các câu chuyện, “con nhà gia giáo” vẫn xuất hiện và giữ vị trí không lay chuyển. Mỗi khi có ai đó nhắc đến mấy chữ đó, câu chuyện bỗng nhiên trùng xuống nghiêm trang. Quanh bàn trà không khí như ngưng đọng. Cảm tưởng như đó là một cái đích xa xăm mình cần hướng tới, hoặc như một tiếc nuối về điều gì đã vuột khỏi tay mình.

    Bất chợt nhớ ra câu chuyện này không chỉ có ở làng xưa xóm cũ. Chốn thị thành chúng tôi cũng nhắc đến nó thường xuyên, nhưng dưới một tên gọi khác, là truyền thống gia đình, hoặc dưới một thuật ngữ có vẻ chuyên môn, là giáo dục trong gia đình.

    Bỗng giật mình như tìm ra một chân lý mới: Được coi là có giáo dục hay không, được coi là thành người hay không, chính là do giáo dục trong gia đình quyết định.

    Kiến thức chuyên môn bỗng ùa về. Những ngày tháng trong nhà trường, đi học hoặc đi dạy bỗng ùa về. Tôi đã học được gì, và đã dạy gì, ở trong nhà trường vậy? Tất nhiên, đó là kiến thức. Mỗi thầy một lĩnh vực, phụ trách một môn học khác nhau. Phân bổ liều lượng, cân đối nội dung, ai cũng thấy thiếu thời gian, ai cũng thấy môn của mình quan trọng nhưng không được quan tâm đúng mức.

    Kiến thức ngày càng nhiều. Chương trình ngày càng nặng. Chạy theo kiến thức đến mức cả thày và trò đều hụt hơi. Phụ huynh cũng hụt hơi. Nhưng kết quả phần nhiều lại là sự thất vọng. Thầy thất vọng trò. Trò thất vọng thầy. Phụ huynh thất vọng nhà trường. Giáo viên thất vọng quản lý. Báo chí thất vọng chuyên gia. Nhân dân thất vọng Bộ giáo dục.

    Đã xảy ra một sự kỳ vọng và một sự thất vọng. Và sẽ tiếp tục xảy ra một sự kỳ vọng và một sự thất vọng như thế nữa. Dài dài…

    Lần lại đầu dây mối nhợ thì thấy rằng, trong suốt một thời gian dài, nhiều phụ huynh đã coi việc giáo dục là việc của nhà trường. Và nhà trường cũng không chối bỏ, khi từ sáng đến chiều con trẻ đều học tập và ăn ngủ ở trong trường. Nhưng tất cả những gì các thầy cô làm trong nhà trường là truyền dạy kiến thức, và tổ chức thi cử xem có nắm được kiến thức đó hay không. Cả thầy và trò đều xoay tít quay bộ sách giáo khoa, bài tập, đề cương và những cuộc thi, mà quên mất việc đặt câu hỏi xem, học những thứ này có giúp cho mình trở thành người có giáo dục hay không, tức có thành người theo cách nói dân dã, hay không?

    Dưới con mắt của người làm chuyên môn, học để lấy kiến thức chỉ cần tính bằng ngày. Nhưng học để làm người, tức học để trở thành người mà mình muốn hướng đến, thì mất hàng thập kỷ. Hai cái học này khác nhau về bản. Dùng cái học này lấn át cái học kia, rồi than vãn kêu la không có kết quả, thì là sự tất yếu.

    Đó là về mặt thời gian thực hiện. Còn về phương pháp lại cũng khác nhau. Học để lấy kiến thức, tức học để biết, thì dùng giáo trình là đủ. Giáo trình này là thứ bên ngoài mình, thường do người khác làm ra, và có thể mua để dạy. Nhưng học để làm người thì giáo trình không phải là sách vở, mà lại là chính cuộc đời mình. Người thầy khi đó sẽ dùng chính đời sống của mìnhđể dạy học, nên gọi là “thân giáo”. Muốn trò của mình thành người thì mình phải thành người trước hết. Không có sách vở nào có thể thay thế được việc này.

    Thân giáo bỗng trở nên vô cùng khó. Lời thầy nói ra sẽ không chỉ là lời trong sách vở, mà phải là chính cuộc sống của thầy. Lời thầy nói, việc thầy làm, cách thầy sống hòa làm một thì mới có sức nặng lay chuyển và rèn rùa người theo học. Nhưng trong thời đại lắm xô bồ này, mấy người thầy hiểu được như vậy, và mấy người thầy làm được như vậy, và mấy nhà trường được thiết kế ra để làm như vậy?

    Gánh nặng thân giáo, gánh nặng dạy con trẻ làm người bỗng chốc lại đổ dồn về phía gia đình, nơi mẹ cha yêu thương vô điều kiện, nơi mẹ cha có hàng chục năm đồng hành cùng con cho đến lúc trưởng thành. Nhưng bao nhiêu mẹ cha hiểu được như vậy, và bao nhiêu mẹ cha làm được như vậy?

    Làm người đã khó. Làm người để dạy người khác thành người còn khó hơn gấp bội. Vậy nên, “con nhà gia giáo” không chỉ là khắc khoải ở một làng quê, mà còn là một bảo đảm về chất lượng giáo dục, vì ở đó người mẹ người cha không dạy học bằng giáo trình có sẵn, mà dạy bằng đời sống của chính mình.
    ---
    Bài đã đăng Thế Giới Tiếp Thị, số Tết 2017.

    Giáo dục trong gia đình: Phòng tuyến không thể buông lơi

    Giáp Văn Dương

    Khi giáo dục nhà trường đang có nhiều bất cập, thì giáo dục trong gia đình là chốt giữ cuối cùng các bậc phụ huynh cần trấn giữ. Đây là cơ hội, và cũng là trách nhiệm của các bậc phụ huynh, đối với sự trưởng thành của con trẻ.

    “Hoang mang style”

    Cuối tuần vừa rồi, chúng tôi có dịp gặp gỡ cuối tuần một nhóm phụ huynh của bạn bè con mình. Xuyên suốt một buổi chiều là câu chuyện dạy con thế nào. Và những gì tôi còn nhớ được đến sáng nay là con cái giờ phải học nhiều quá, các không có thời gian nghỉ, không có thời gian chơi với bố mẹ, quá nhiều bài tập, con như cái máy...

    Bố mẹ phải canh me giờ giấc chính xác đến mỗi 15 phút để ăn để nghỉ sao cho đảm bảo làm hết bài về nhà kẻo ngày mai cô mắng. Lịch làm việc của con nghe ra căng thẳng không kém lịch làm việc của nguyên thủ quốc gia.

    Mà con mới học lớp 3 chứ có nhiều nhặn gì.

    Khi tôi hỏi cho con học nhiều như thế để làm gì thì hầu hết các phụ huynh đều…bí. Câu trở lời hiển nhiên là: Cô cho nhiều bài về nhà thì cứ phải học hết thôi. Nào Toán, nào Tiếng Việt, nào tập làm văn, nào nhật ký đọc, nào chính tả, nào thi IOE, nào thi Violymp… Nói chung là sáng sớm đi học, tối lại học tất bật, 10 giờ đêm vẫn chưa được nghỉ.

    Tôi hỏi: Nếu không làm thì sao? Không ai dám nghĩ đến chuyện đó. Không hoàn thành thì bị chép phát 5 lần, có khi 10 lần, nên con nào cũng sợ. Bố mẹ thì nói chung là “hoang mang style”, nên chỉ biết căn ke giờ giấc và giục con đi học, rồi gặp nhau than thở sao bây giờ con học vất vả quá, sao ngày xưa không thế. Nhưng than là than như vậy, chứ cũng chẳng biết làm gì hơn ngoài việc cho con ăn và giục con đi học.

    Rồi không chỉ học ở trường, nhiều gia đình còn cho con đi học thêm đủ thể loại. Các bố mẹ thì đua nhau nghe ngóng xem có lớp nào hay, kể cả các chương trình nghe ra rất bí hiểm, để đăng ký cho con học.

    May mà tôi quyết đoán không nhận bài tập về nhà cho con. Cũng không cho con đi học thêm. Nhưng chỉ nghe kể thì cũng thấy đúng là “hoang mang style” thật.

    Cơ hội và trách nhiệm


    Gia đình tôi đã từng coi giáo dục tại gia (homeschooling) như một giải pháp. Khi chuyển từ nước ngoài về Việt Nam sinh sống, chúng tôi đã suy nghĩ nghiêm túc việc chọn giáo dục tại nhà như loại hình giáo dục chính cho con mình, vì cháu không thích nghi được với môi trường học tập mới, dù hình thức học tập này chưa được công nhận ở Việt Nam.

    Khi đó, tôi đã nhận thấy, dù có chọn giáo dục tại gia toàn bộ hay không, thì giáo dục trong gia đình là một phần tối quan trọng, không thể thiếu đối với sự trưởng thành của con trẻ.

    Tiếc rằng, không ai dạy chúng ta cách dạy con, và rộng hơn là cách làm cha mẹ để chúng ta có thể dạy cho con mình.

    Lại tiếc rằng đời sống hiện đại quá bận rộn, nên chúng ta có quá ít thời gian dành cho nhau và dành cho việc dạy con.

    Lại cũng tiếc rằng, chương trình giáo dục phổ thông hiện giờ được viết theo lối học sinh không thể tự học, nên mình không thể dựa vào đó mà dạy con. Phải có cô, phải có sách giáo viên, phải có bài mẫu, nếu không thì… botay.com.

    Và vô số cái tiếc rằng khác nữa mà nếu liệt kê ra cũng kín cả vài trang giấy. Cái nào cũng chính đáng cả.

    Hệ quả là chúng ta đẩy toàn bộ phần giáo dục cho nhà trường, bỏ lơi giáo dục trong gia đình, mà nếu suy xét thật kỹ, thì hóa ra lại là phần quan trọng nhất.

    Vì sao như vậy?

    Vì khi nhìn sâu vào việc học, chúng ta sẽ thấy việc học ở trường hiện giờ chỉ giới hạn ở học để biết, mà một phần trong số đó cũng đã lạc hậu và phiên diện.

    Biết nhiều là tốt. Biết nhiều như Google lại càng tốt. Nhưng là một người sử dụng Google thường xuyên, tôi thấy chạy đua với Google không phải là cách đúng.

    Chưa kể biết phiến diện lệch lạc, biết những thứ đã lỗi thời mà cứ tưởng là chân lý, biết chỉ để biết mà không biết dùng để làm gì thì có khi còn nguy hiểm.

    Vì thế, nếu giao phó toàn bộ việc giáo dục con cái cho nhà trường, mà lại chỉ tập trung cho cái học để biết, hiển nhiên là dại dột, và có phần nguy hiểm.

    Trên thực tế, ngoài cái học để biết, thì còn những cái học khác quan trọng hơn, đó là: học để làm việc, học để trở thành, và học để tương tức trở thành.

    Những cái học này hiện rất yếu ở trong nhà trường. Biểu hiện rõ nhất là dù có học hết 12 năm phổ thông và 4 năm đại học, thì kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, khả năng tự lãnh đạo bản thân của người trẻ thường rất yếu.

    Tuy nhiên, chính những cái học mà nhà trường chưa chạm tới này lại quyết định sự trưởng thành hay không trưởng thành, thành công hay thất bại… của con trẻ.

    Đó chính là nơi mà các bậc phụ huynh phải trám vào, nếu không muốn con mình hụt hơi với cuộc sống, nếu không muốn con mình trở thành những đứa trẻ ở tuổi… 30.

    Những cái học này chính là mảnh đất của giáo dục trong gia đình mà cha mẹ có thể, và cần phải gieo trồng. Bội thu hay thất bát sau này, phần nhiều nằm ở việc gieo trồng trên những mảnh đất này.

    Suy cho cùng, con cái là tài sản lớn nhất của chúng ta. Vậy tại sao ta lại có thể mặc nhiên giao phó toàn bộ cho nhà trường để rút về giữ vai trò quan sát như người ngoài cuộc được !?

    Hiểu ra được như thế, chúng ta sẽ thấy giáo dục trong gia đình chính là cơ hội để chúng ta giúp con mình trưởng thành toàn diện hơn, là nơi chúng ta thể hiện vai trò của mình, lại cũng là trách nhiệm của chúng ta đối với con trẻ.

    Nói cách khác, buông hẳn việc giáo dục cho nhà trường, thì dù có thừa nhận hay không, chúng ta cũng chưa làm tròn trách nhiệm.

    Nếu đã đồng ý như thế, thì trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, chúng ta sẽ khám phá tiếp hai câu hỏi: Cha mẹ có thể dạy gì và dạy thế nào cho con trẻ?

    Dạy gì cho con?

    Khi bắt đầu xốc lại vai trò của giáo dục trong gia đình, thường câu hỏi đầu tiên mà các bậc phụ huynh phải đặt ra là: Dạy gì cho con?

    Câu trả lời ngắn gọn là: Dạy những gì quan trọng với cuộc sống, nhưng nhà trường chưa chạm tới.

    Nhưng cụ thể đó là những gì?

    Hẳn nhiên, điều đầu tiên các bậc phụ huynh phải dạy con là ý thức về mình, xem mình là ai, mình đang ở lứa tuổi nào, mình có gì độc đáo khác biệt, mình đang ở vị trí nào trong bức tranh lớn của gia đình và xã hội xung quanh.

    Khi đó, con sẽ có được ý thức về “Tôi là ai?” và dần dà tìm cách trả lời chúng trong cách tình huống. Con sẽ nhận thấy mình cần phải điều chính ra sao khi ở nhà, khi ở trường, khi gặp bạn thân, khi gặp người lạ, khi ở một mình, khi ước mơ, khi thất vọng… Dần dà, con sẽ ý thức được về mình, và hành trình mình đang đi trong cuộc sống.

    Điều thứ hai, là dạy con có ý thức về cuộc sống, khởi đầu từ những quan sát thường ngày, xem cuộc sống cùa con gồm những gì, có liên hệ đến những ai, con có thể làm gì ở trong đó, cái gì con làm vì niềm vui thích, cái gì là trách nhiệm phải hoàn thành.

    Làm được điều này, con sẽ có được sự tỉnh táo khi đi qua cuộc sống, từ đó khám phá ra ý nghĩa của nó, làm chủ nó, để rồi yêu thích và trân trọng nó.

    Điều thứ ba, là dạy con cách tổ chức cuộc sống cá nhân, từ sắp xếp thời gian sao cho đi ngủ và thức dậy đúng giờ, giữ gìn vệ sinh cá nhân hợp cách, sắp xếp sách vở, bàn học ngăn nắp, giữ cho phòng riêng được sạch sẽ gọn gàng, giữ đúng thời gian biểu đã thỏa thuận cùng bố mẹ… Sau đó là tham gia vào việc tổ chức cuộc sống gia đình, từ chia sẻ việc nhà, đến lựa chọn cuối tuần đi đâu, làm gì, mình có vai trò gì trong gia đình, đâu là phần trách nhiệm của mình, đâu là phần mình có thể đóng góp. Từ đó, con sẽ học được cách làm chủ va tự tổ chức đời sống của mình.

    Điều thứ tư các phụ huynh có thể dạy con là các kỹ năng sống cơ bản, như biết xin lỗi và cảm ơn; biết chào hỏi; biết nói điều mình muốn, hỏi đáp nhã nhặn, lễ phép; có ý thức giữ lời; biết biểu lộ cảm xúc đúng mực; biết ôm bố mẹ và anh chị em; biết khen ngợi và an ủi người khác; biết nghe khi người khác nói…Rồi cùng với đó là những việc nhà thiết yếu cho đời sống của con sau này, như giặt và phơi đồ, nhặt rau, rửa bát, nấu cơm, sử dụng đồ gia dụng, sắp xếp phòng ốc, bày biện trang trí… Sau đó là những kỹ năng sinh tồn, như cách về nhà nếu đi lạc, nếu gặp hỏa hoạn thì phải làm sao, sang đường thế nào cho an toàn, tiêu tiền thế nào cho đúng, những tình huống nào là nguy hiểm…

    Cứ giản dị như thế, đi từ chính con người mình ra những việc xung quanh, từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hiện tại đến tương lai... Không có giáo trình cụ thể. Cũng không có thời khóa biểu cố định. Nhưng thường trực, tận tâm và kiên trì.

    Như thế, cha mẹ không chỉ là cha mẹ, mà còn là người đồng hành cùng con, vừa hướng dẫn, vừa hỗ trợ con đi qua cuộc sống này trong những năm tháng đầu đời.

    Lưu ý rằng, học để biết thì đơn vị tính bằng ngày, học để làm thì đơn vị tính bằn năm, cái học để trở thành thì đơn vị tính bằng thập kỷ. Những cái học dài hơi như thế không nhà trường nào có thể thực hiện được. Chỉ có giáo dục trong gia đình mà ở đó cha mẹ có hàng chục năm để đồng hành cùng con, ở đó có những tình huống người thực việc thực để thực hành, thì học để làm và học để trở thành, và rộng hơn để tương tức trở thành, mới có thể thực hiện được, dưới sự hướng dẫn của cha mẹ.

    Nếu bậc làm cha mẹ nào không nhận ra được điều này, và không chủ động dẫn dắt việc này, thì thực là đã bỏ lỡ cơ hội dạy con trưởng thành. Hẳn nhiên, cũng không làm tròn trách nhiệm của người làm cha mẹ vậy.

    Dạy con thế nào?

    Khi đã muốn dạy con, và biết phải dạy gì cho con, thì mỗi bậc cha mẹ bao giờ cũng sẽ tìm ra những cách phù hớp với hoàn cảnh của mình để dạy con hiệu quả. Có thể liệt kê một số cách phổ biến như sau:

    Cách thứ nhất, phổ biến nhất, và quan trọng nhất, là làm gương.

    Trẻ em, sớm hay muộn gì cũng sẽ bắt chước cách hành xử của cha mẹ. Vì vậy, làm gương chính là dạy mà không dạy.

    Dạy qua việc làm gương cũng là cái dạy khó nhất. Dạy như thế là thân giáo, dạy qua đời sống của mình, dùng chính đời sống của mình để làm giáo trình.

    Mà muốn dạy được qua đời sống của chính mình, thì trước hết đó phải là một đời sống có ý thức, có ý nghĩa và có phẩm giá, nếu ta kỳ vọng con mình cũng sẽ có một đời sống như vậy.

    Đến đây vấn đề thành to chuyện! Nhưng ơ kìa, trên đời này có việc nào to hơn là việc dạy con mình!

    Cách thứ hai cũng rất phổ biến, là cầm tay chỉ việc, hướng dẫn tỉ mỉ chỉn chu từng việc nhỏ, rồi dần dà mở rộng sang những việc lớn hơn. Làm như thế sẽ hình thành được các thao tác, quy trình, và chuẩn mực cho con trẻ ngay từ những việc nhỏ trong nhà. Sau này lớn lên, làm việc gì cũng đến nơi đến chốn, trọn vẹn và hoàn tất.

    Cách thứ ba rất quan trọng, nhưng ít người để ý đến, đó là kể chuyện. Việc kể chuyện có thể tiến hành mọi lúc mọi nơi: trong bữa tối, khi uống trà, trước khi đi ngủ. Có đưa trẻ nào lại không say mê nghe kể chuyện. Nên dạy qua kể chuyện là cách dạy rất nhẹ nhàng nhưng hiệu quả, một công nhiều việc, đặc biệt khi trẻ còn nhỏ, ở bậc mẫu giáo hoặc Tiểu học.

    Cuộc đời mỗi con người cũng là một câu chuyện mà mình chính là tác giả của câu chuyện đó. Vì thế, kể những câu chuyện có ý nghĩa, có tính khơi gợi, biệt khi trẻ còn nhỏ, thường diễn ra trước giờ đi ngủ, là cách giáo dục vô cùng hiệu quả.

    Những câu chuyện này không nhất thiết phải trong sách vở, mà có thể là những câu chuyện được sáng tác tức thời, gắn mới những trải nghiệm mà trẻ trải qua trong ngày.

    Khi đó, trẻ sẽ nhìn lại một ngày của mình qua một lăng kính khác, lại có thể hỏi đáp cùng bố mẹ để rút ra những bài học có ý nghĩa.

    Lớn thêm lên, bố mẹ có thể hướng dẫn con tập hình dung, tập kể câu chuyện của đời mình. Ban đầu có thể chỉ đơn giản là kể lại những gì con đã trải nghiệm trong ngày, hoặc những cột mốc mà con thấy đáng nhớ. Sau đó là những ước mơ về việc con muốn làm, người con muốn trở thành, giá trị con muốn theo đuổi. Dần dà, con sẽ thấy, con chính là tác giả của câu chuyện đời mình, chuyện hay hoặc dở là do mình quyết định chứ không phải là người khác.

    Cách thứ tư là trò chuyện cùng con để giữ nhịp đồng hành mỗi ngày. Chỉ riêng việc đồng hành cùng con qua những trắc trở khó khăn, qua những thử thách mà con phải vượt qua, chia sẻ những niềm vui mà con khám phá, những lo âu mà con phải đương đầu, đã là một cách giáo dục hiệu quả.

    Con người vốn dĩ cô đơn, nên có được người hiểu mình, có người tin cậy để đồng hành cùng mình, sẽ làm cho mình vững tin, mình mạnh mẽ, mình trưởng thành lên rất nhiều.

    Việc trò chuyện cùng con này thoạt nghe thì dễ, nhưng thực hành thì không dễ chút nào, vì chúng ta có xu hướng áp đặt ý kiến của mình, chúng ta sốt ruột, chúng ta đã trả những giá đắt nên muốn chỉ ngay ra giải pháp và con đường. Khoảng cách thế hệ cũng từ đó mà rộng dần ra.

    Khi đó, chỉ có lắng nghe chân thật và yêu thương chân thật mới có thể giúp ta chầm chậm bước chân để lắng nghe giữ nhịp cùng con.

    Mà lắng nghe chân thật và yêu thương chân thật, suy cho cùng, lại là cội rễ của giáo dục trong gia đình.

    Tiếc rằng, bài viết đã quá dài nên khép hờ tại đây, hẹn bạn dịp kế tiếp.
    ---
    Bài đã đăng Thế Giới Tiếp Thị, 2 kỳ. 

    Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

    Có mấy con ruồi?


    Vụ nước mắm ầm ĩ cả tuần nay, nhưng tút này sẽ không viết về asen hay nước mắm, mà về… con ruồi xa lắc xa lơ. Con ruồi của THP, vì cả hai vụ này đều có những điểm chung. Chung thế nào, đọc tiếp sẽ rõ.

    Lần lại vụ con ruồi mà ai cũng đã rõ, câu hỏi đặt ra: Có mấy con ruồi trong chai nước của THP?

    Câu trả lời khoa học: Có một con ruồi trong chai nước của THP.

    Câu trả lời triết học: Có nhiều con ruồi trong chai nước của THP.

    Con ruồi khoa học là con ruồi xảy-ra, nằm gọn trong chai nước, khách quan với tất cả mọi người.

    Con ruồi triết học là con ruồi hiện-ra trong nhận thức của các bên liên quan, vì thế mang tính chủ quan.

    Tuy chỉ có một con ruồi xảy-ra, nhưng lại có vô số con ruồi hiện-ra khác nhau: Với anh Minh, thì đó là con ruồi… kiếm tiền. Với THP, thì đó là con ruồi… tống tiền. Với đối thủ của THP thì đó là con ruồi.. cơ hội. Với báo chí thì đó là con ruồi… bán báo. Với đám đông thì đó là con ruồi… tán gẫu.

    Như vậy, chỉ có một con ruồi xảy-ra, nhưng lại có muôn vàn con ruồi hiện-ra khác nhau. Vấn đề là chúng ta chỉ sống với con ruồi hiện-ra trong tâm trí mình.

    Những diễn biến của vụ con ruồi này cho thấy, tất cả chúng ta đều sống và do đó hành xử nhất quán với con ruồi hiện-ra, mà không ai quan tâm đến con ruồi xảy-ra đang nằm đó trong chai nước.

    Vì sống với con ruồi hiện-ra, nên thường thì chúng ta đánh đồng con ruồi xảy-ra với con ruồi hiện-ra. Chính sự đánh đồng này đã làm anh Minh phải trả giá bằng một số năm tù tội, còn THP thì thiệt hại lên đến 2000 tỉ đồng, như công bố của chính doanh nghiệp này.

    Giá như không có sự nhầm lẫn giữa sự xảy-ra và hiện-ra này thì anh Minh đã không phải vào tù, mà THP cũng không phải chịu thiệt hại lớn đến như vậy.

    Tất nhiên, sự nhầm lẫn này cũng có mặt tích cực là tạo đất cho vô vàn chuyên gia marketing và truyền thông thi triển tài năng J.

    Giờ trở lại chuyện nước mắm: Theo bạn, có gì chung giữa hai sự kiện nước mắm asen và con ruồi trong chai nước này?

    Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

    Giao lưu văn hóa Việt - Nhật: Khám phá tỉnh Tokushima

    Bình luận về chương trình giao lưu văn hóa Việt Nhật trên VTV1 - 24/9/2016.


     Bình luận về chương trình Giao lưu văn hóa Việt - Nhật

    Nobel vật lý 2016: Miền đất phẳng kỳ thú

    • GIÁP VĂN DƯƠNG
    • 15.10.2016, 09:18
    TTCT - Giải Nobel vật lý năm nay đã được trao cho ba nhà khoa học gốc Anh nhưng đều đang làm việc tại Mỹ: David J. Thouless (ĐH Washington), F. Duncan M. Haldane (ĐH Princeton) và J. Michael Kosterlitz (ĐH Brown) cho “những phát kiến lý thuyết về các pha và chuyển pha tô-pô của vật chất”.
    Nobel vật lý 2016: Miền đất phẳng kỳ thú
    Ba nhà khoa học David J. Thouless (ĐH Washington), F. Duncan M. Haldane (ĐH Princeton) và J. Michael Kosterlitz (ĐH Brown) 
    Thoạt tiên, giới chuyên môn và phần nào cả các nhà khoa học được trao giải có chút bất ngờ, vì dân trong ngành tiên đoán giải Nobel năm nay sẽ dành cho công trình tìm ra sóng hấp dẫn được công bố hồi đầu năm và gây tiếng vang lớn.
    Tuy nhiên, nhìn từ góc độ chuyên môn thì giải thưởng năm nay hoàn toàn xứng đáng, vì tầm ảnh hưởng cả về lý thuyết và khả năng ứng dụng của công trình được trao giải. Trên thực tế, lĩnh vực mà các nhà khoa học được giải Nobel vật lý năm nay mở ra đã và đang trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu sôi động nhất của ngành vật lý hiện thời.
    Vật chất tồn tại 
dưới dạng nào?
    Vật chất tồn tại ở ba thể rắn - lỏng - khí là thứ kiến thức phổ thông mà bất cứ học sinh nào cũng được yêu cầu phải thuộc nằm lòng.
    Để cho dễ nhớ, các thầy cô thường lấy nước như một ví dụ minh họa, rằng: ở nhiệt độ cao thì nước ở thể hơi, nếu làm lạnh thì nước ngưng tụ thành thể lỏng, tiếp tục làm lạnh nữa thì nước chuyển thành thể rắn, tức nước đá mà ta dùng để giải nhiệt hằng ngày.
    Bằng cách đó, kiến thức phổ thông rằng vật chất tồn tại ở ba dạng rắn - lỏng - khí đi vào đầu học sinh như một yêu cầu bắt buộc của môn vật lý phổ thông.
    Sự chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác của vật chất, thuật ngữ chuyên môn của ngành vật lý gọi là sự chuyển pha. Như thế, ta sẽ có các dạng chuyển pha phổ biến là từ rắn sang lỏng, từ lỏng sang khí khi nhiệt độ thay đổi, như một sự tất yếu.
    Chỉ khi học lên bậc đại học, sinh viên chuyên ngành khoa học tự nhiên mới được biết rằng vật chất còn tồn tại ở một dạng khác nữa, đó là dạng plasma khi nhiệt độ lên rất cao.
    Ban đầu, kiến thức về dạng tồn tại thứ tư của vật chất này chỉ khu trú trong trường đại học, nhưng gần đây các tài liệu phổ biến khoa học đã bắt đầu nhắc đến dạng vật chất này, chủ yếu qua các bài viết hoặc sách phổ biến khoa học về vũ trụ ở thuở sơ khai, khi vũ trụ rất nóng và vật chất tồn tại ở dạngplasma, tương tự một nồi xúp của các ion mang điện, trước khi kết hợp lại thành vật chất ở dạng khí - lỏng - rắn khi nhiệt độ nguội đi như ta vẫn thấy.
    Đến khi giải Nobel vật lý năm nay được công bố thì chúng ta được nghe nói đến một dạng chuyển pha khác ngoài sự chuyển pha của plasma - khí - lỏng - rắn mà chúng ta đã biết. Đó là sự tồn tại của các pha, kèm theo là chuyển pha tô-pô, được khám phá bởi các nhà khoa học được giải Nobel năm nay.
    Nobel vật lý 2016: Miền đất phẳng kỳ thú
     
    Miền đất phẳng kỳ thú
    Giải thưởng năm nay dành cho các nghiên cứu về các trạng thái tồn tại đặc biệt, gọi là các pha, và sự chuyển đổi của các trạng thái này, gọi là sự chuyển pha, ở nhiệt độ rất thấp, rất gần độ không tuyệt đối, tức -273,15oC.
    Trong quá trình chuyển pha đó, tính chất của vật chất thay đổi theo các bước nhảy cóc gián đoạn y như người nhảy lên từng bậc thang vậy. Những bước nhảy cóc này, và do đó là các tính chất này, có thể được mô tả chính xác khi sử dụng các khái niệm của ngành 
tô-pô (Topology), một phân ngành của toán học. Chính vì thế mà chúng được gọi là các pha tô-pô và chuyển pha tô-pô của vật liệu.
    Vậy tô-pô là gì? Nếu bạn bằng lòng với câu trả lời rằng: Tô-pô nghiên cứu các hình thể mà ở đó hình dạng không quan trọng, chỉ có các bất biến, như số lỗ của các hình dạng mới quan trọng, thì bạn đã được trang bị ý niệm cơ bản nhất để đọc tiếp bài viết này.
    Khi đó bạn sẽ thấy một chiếc cốc và một chiếc săm xe là giống hệt nhau vì đều có cùng một lỗ, bất kể hình dạng của nó khác nhau ra sao. Hiển nhiên, các hình thể khác nhau này có thể được đặc trưng bởi số lỗ mà nó có: 1 lỗ, hay 2 lỗ, hay 3 lỗ... (số lỗ của hình thể bao giờ cũng phải là một số nguyên).
    Thoạt đầu, các tác giả được giải Nobel năm nay nghiên cứu các màng mỏng hai chiều, tức loại vật liệu ở dạng màng, chỉ có chiều dài và chiều rộng mà không có chiều dày, hoặc chiều dày không đáng kể.
    Loại vật liệu như thế bộc lộ những tính chất mà vật liệu khối, tức vật liệu ba chiều không có được. Khi đi vào loại vật liệu hai chiều đó, các nhà vật lý như đi vào một miền đất mới, miền đất phẳng kỳ thú, với những tính chất mới lạ mà vật liệu thông thường không có được.
    Cho đến thời điểm 1970-1980, phần lớn nhà khoa học tin rằng, với loại vật liệu hai chiều này, dao động nhiệt của các nguyên tử sẽ phá vỡ trật tự của lớp vật liệu.
    Đó cũng là lý do vì sao những màng mỏng hai chiều tồn tại độc lập như graphene đã được cho là không thể tồn tại, cho đến khi được tìm ra năm 2004 và được trao giải Nobel vật lý năm 2010.
    Vì tin rằng các màng mỏng hai chiều sẽ bị dao động nhiệt phá vỡ trật tự nguyên tử, nên các nhà khoa học tin rằng sẽ không có chuyển pha trong các vật liệu hai chiều này, vì từ xưa đến nay, chuyển pha bao giờ cũng đi kèm với việc phá vỡ một trật tự cũ và hình thành một trật tự mới.
    Nên, nếu đã luôn tồn tại ở dạng không có trật tự thì sẽ chẳng thể nào có sự chuyển pha được. Nhận định này đã thay đổi dần từ những năm 1970 nhờ các nghiên cứu lý thuyết của các nhà khoa học được giải Nobel năm nay.
    Nobel vật lý 2016: Miền đất phẳng kỳ thú
     
    Bước nhảy lượng tử
    Cũng trong khoảng thời gian đó, các thực nghiệm vật lý nhiệt độ thấp đã mang lại những khám phá thú vị. Năm 1980, Klaus von Klitzing nghiên cứu tính chất của lớp vật liệu dẫn điện siêu mỏng kẹp giữa hai lớp bán dẫn, ở nhiệt độ rất thấp, đặt trong từ trường mạnh.
    Kết quả thực nghiệm cho thấy độ dẫn điện của lớp màng mỏng này không biến thiên liên tục dưới sự thay đổi của các thông số ngoài như nhiệt độ, từ trường, hoặc lượng tạp chất của lớp bán dẫn, mà nhảy cóc theo các bậc từ mức ban đầu, thành gấp đôi, gấp ba, gấp tư... như ta nhảy cóc từng bậc thang vậy.
    Sự nhảy cóc từng bậc theo các gián đoạn của các tính chất vật lý là đặc trưng lượng tử của các hạt vi mô. Sự kiện này cho thấy lớp vật liệu màng mỏng này có một hiệu ứng lượng tử tập thể.
    Vì đây là thực nghiệm đo đạc độ dẫn điện của vật liệu đặt trong từ trường, tương tự hiệu ứng Hall nổi tiếng trong ngành vật lý chất rắn, nên hiệu ứng mới được gọi là hiệu ứng Hall lượng tử. Nhờ tìm ra hiệu ứng Hall lượng tử này mà Klaus von Klitzing được trao giải Nobel vật lý năm 1985.
    Rõ ràng, những tính chất kỳ lạ như sự nhảy cóc độ dẫn điện không quan sát được trong các điều kiện bình thường, và cũng không thể hiểu được bằng các lý thuyết đã có lúc đó. Những tính chất này bị che khuất đi trong điều kiện bình thường, nhưng khi ở nhiệt độ rất thấp, và đặc biệt khi kích thước vật liệu giảm xuống hai hoặc một chiều, thì lại bộc lộ rõ ràng, có thể quan sát được.
    Lý do là ở nhiệt độ cực thấp đó, bản chất lượng tử của các hạt vi mô mới vượt qua ảnh hưởng của dao động nhiệt, có thể quan sát và đo đạc được. Chính những tính chất mới lạ này đòi hỏi những cách nhìn và giải thích mới về bản chất vật lý của hiện tượng. Và đó là nơi mà lý thuyết về các pha và chuyển pha tô-pô của vật liệu, tìm được đất dụng võ.
    Có mình có tôi hay đường ai nấy đi?
    Trở lại với các xoáy nhỏ ở phần trên, chúng ta thấy ở nhiệt độ thấp, các xoáy này tồn tại dưới dạng các cặp đôi chặt chẽ như thể "có mình có tôi" ở mọi lúc mọi nơi. Như khi nhiệt độ tăng lên, tức ở mức năng lượng cao hơn, các xoáy này rời xa nhau theo lối "đường ai nấy đi" dưới dạng các xoáy đơn không dính dáng gì đến nhau.
    Việc chuyển từ xoáy đôi sang xoáy đơn là một bước nhảy có tính cách gián đoạn, tương tự các bước nhảy lượng tử quan sát được trong thực nghiệm về độ dẫn điện của màng mỏng.
    Và nếu quan sát kỹ, ta sẽ thấy bước nhảy này đã chuyển trạng thái từ hai xoáy đôi sang một xoáy đơn mà không đi qua trạng thái trung gian, tức một xoáy rưỡi chẳng hạn.
    Điều này gợi nhớ đến sự chuyển đổi hình dạng của các hình thể trong ngành tô-pô học, khi các hình thể nào đó chuyển từ dạng có 2 lỗ sang 1 lỗ mà không đi qua dạng trung gian có 1,5 lỗ.
    Sự kiện các hình thể trong ngành 
tô-pô chỉ có số lỗ là số tự nhiên 1, 2, 3, 4, 5... có điều gì đó rất tương đồng với các bước nhảy lượng tử trong độ dẫn điện của một số loại vật liệu ở nhiệt độ thấp. Điều đó dẫn đến ý tưởng sử dụng các khái niệm của ngành tô-pô để xây dựng một lý thuyết vật lý hoàn toàn mới để mô tả những tính chất này.
    Đó là công việc của ba nhà khoa học được giải Nobel Vật lý năm nay và của nhiều đồng nghiệp ngành vật lý chất rắn đã và đang làm trong suốt mấy chục năm qua, khi họ tập trung nghiên cứu các pha và sự chuyển pha có các đặc trưng tô-pô của vật liệu.
    Đó chính là lý do vì sao ủy ban Nobel năm nay lại trao cho “những phát kiến lý thuyết về các pha và chuyển pha tô-pô của vật chất”, một cách nói rất khó hiểu đối với người ngoài ngành vật lý chất rắn.
    Tiềm năng ứng dụng
    Những thành tựu của ngành khoa học vật liệu bao giờ cũng gắn liền với các ứng dụng công nghệ. Điều này có thể được kiểm chứng qua việc nhìn lại chính lịch sử phát triển của loài người, khi thấy rằng chính sự ra đời của các loại vật liệu mới, với những tính chất hoàn toàn mới, là một trong những nguyên nhân chính để tạo ra sự phát triển đột phá của cả một thời đại.
    Đó cũng là lý do mà các nhà lịch sử đã phân lịch sử thành thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt...
    Thời đại của chúng ta tuy không được các nhà sử học nhắc đến như một sự phân loại theo tên của vật liệu, nhưng nếu tiếp nối truyền thống đó thì có thể được gọi tên là thời kỳ đồ... silicon, với hàm ý đây là loại vật liệu tạo ra phần lớn các thiết bị điện tử, bao gồm cả các máy tính bàn, máy tính bảng, điện thoại thông minh mà bạn đang dùng để đọc bài báo này.
    Nhưng vật liệu silicon đang dần đi đến giới hạn của nó. Nếu không tìm ra các vật liệu mới ưu việt hơn, chúng ta sẽ không thể đi xa hơn bao nhiêu những gì chúng ta đang có.
    Tốc độ của máy tính, dung lượng của ổ cứng... đều đang dần chạm đến giới hạn vật lý, vì kích thước của loại vật liệu sử dụng để tạo ra các thiết bị này đã được giảm xuống kích cỡ nano, rất gần với giới hạn không thể giảm hơn của vật liệu khối, do nếu giảm hơn nữa thì năng lượng nhiệt sẽ phá vỡ sự ổn định của chính vật liệu, và theo đó là của thiết bị chúng ta sử dụng.
    Vì thế, để tạo ra một cuộc cách mạng mới trong công nghiệp, cần phải tìm ra các loại vật liệu mới, trong đó vật liệu có đặc trưng tô-pô mà giải Nobel năm nay vinh danh là một trong những ứng viên sáng giá.
    Giới chuyên môn cho rằng các vật liệu tô-pô có tiềm năng lớn để trở thành vật liệu điện tử và siêu dẫn mới, dùng để tạo ra các thiết bị công nghệ mới, với đích nhắm bao gồm cả các máy tính lượng tử siêu mạnh, được vận hành với các quy luật vật lý khác hẳn với máy tính thông thường.■