Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

Lương tâm và luật pháp

Giáp Văn Dương


Tôi là một phụ huynh có ba con nhỏ đang đi học. Việc này cũng chẳng có gì khác biệt với các phụ huynh khác. Nếu có khác thì đó là con tôi hay hỏi những câu trái khoáy, như con không muốn thế, nhưng quy định phải thế, thì con chọn cái nào? Và tôi, thay vì lảng tránh những câu hỏi oái oăm này, lại thường chọn cách phân tích rốt ráo cho con hiểu và để con đưa ra lựa chọn. Vì tôi cho rằng, sau khi đã hiểu thì phải chọn, đó là lựa chọn cá nhân, tôi không can thiệp. Nhưng trước khi chọn thì phải hiểu, vì một lựa chọn chỉ thực sự là một lựa chọn ở trong tự do và sau khi suy xét.



Trở lại câu chuyện của con tôi: Con không muốn thế, nhưng quy định phải thế, thực ra là một câu hỏi hóc búa. Con không muốn thế, tức con đã cảm thấy có gì đó không ổn, thấy có gì đó không đúng ở chỗ này, con không muốn tuân thủ. Cái đó là tiếng nói từ bên trong, thuộc về tự do cá nhân, thuộc về lương tâm. Còn quy định phải thế lại thuộc về ràng buộc, thuộc về luật pháp. Câu hỏi của con tôi, thực chất là câu hỏi: Giữa lương tâm và luật pháp, con nên chọn bên nào? Đây là câu hỏi lớn, không chỉ với trẻ con, mà với cả những nhà làm luật. Nhưng không vì thế mà né tránh không trả lời.

Muốn trả lời câu hỏi này, thì phải trả lời câu hỏi trước đó: Lương tâm và luật pháp đến từ đâu? Nói cách khác, phải thấu hiểu bản chất của lương tâm và luật pháp thì mới có thể đưa ra lựa chọn.

Ngoài ra, tưởng chừng không liên quan, mà hóa ra lại rất liên quan, là trong các lựa chọn đó, cần phải trả lời một câu hỏi cốt yếu khác. Đó là: “Tôi là ai?” trong tình huống mà tôi đang đối mặt đó. Trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” này thì sẽ đưa ra được lựa chọn tương ứng. Nếu không, sẽ ra thành chuyện râu ông nọ cắm cằm bà kia, tưởng đúng, tưởng hơp logic, mà hóa ra lại sai, vì sai ngay từ đầu, từ cái “Tôi là ai?” này.

Trở lại với lương tâm, câu hỏi đặt ra là: Lương tâm bắt nguồn từ đâu?

Câu hỏi này vừa to vừa khó. To vì ngoài nó ra có còn mấy vấn đề nhân sinh to hơn nó nữa đâu. Khó vì nó không định lượng được, nên chỉ có thể cảm nhận bởi người trong cuộc. Tuy không không cân đo đong đếm được, như khi đánh mất lương tâm, ta sẽ cảm nhận được ngay tức thì, vì nó chính là ta. Nó là cho ta trở thành một con người. Mất nó, ta không còn là ta nữa, nên ta nhận ra gay tắp lự.

Tạm bỏ qua những lý luận dài dòng, ta đi thẳng vào vấn đề để trả lời một cách ngắn gọn: Lương tâm bắt nguồn từ tự do nội tại của mỗi người. Không có tự do sẽ không có lương tâm. Nhờ có tự do đó, thể hiện trước hết ở tự do nội tại ở trong sâu thẳm, mà mỗi người có được quyền lựa chọn làm và sống với những điều họ cho là thiện hảo, đúng thật. Nếu không làm vậy, họ sẽ bị dằn vặt, bị lương tâm cắn rứt. Vì sao? Vì lương tâm chính là mình, lương tâm tạo ra mình với tư cách một con người. Không có nó, mình không còn là mình, mình cũng không còn là người, nên bị dằn vặt và cắn rứt.

Nhưng điều mà mỗi người cho là thiện hảo đúng thật đó lại thuộc về chủ quan của mỗi người. Điều thiện hảo đúng thật của anh khác của tôi. Và vì là chủ quan nên  người ngoài không thể truy nhập được. Nhưng người trong cuộc thì biết và cảm nhận rất rõ.

Vậy nên, cái gì đã thuộc về lương tâm thì hãy để mỗi cá nhân tự quyết định. Đó là tự do cá nhân, không thể ép buộc. Nếu ép buộc họ phải làm trái với điều mà họ cho là thiện hảo đúng thật đích thị là đang bắt họ làm những việc trái với lương tâm. Điều này, chắc không ai muốn.

Theo cách nhìn đó, lương tâm là cội nguồn của đạo đức. Trong mối quan hệ với luật pháp thì lương tâm là cơ sở của luật pháp. Tuy nhiên, lương tâm không phải lúc nào cũng trùng khít với luật pháp. Lý do là lương tâm của một người là vấn đề thuộc về chủ quan của người đó, không có lương tâm chung cho tất cả mọi người. Cái ta gọi là lương tâm chung của mọi ngươi đó, trên thực tế là một thứ khác, đó là luân thường đạo lý. Luân thường đạo lý cũng giống như đạo đức, bắt nguồn từ lương tâm nhưng không phải là lương tâm. Vì thế, lương tâm của ai thì chỉ người đó mới cảm nhận được. Đó là vấn đề chủ quan. Còn luật pháp là vấn đề khách quan, có được thông qua đồng thuận. Vì thế, với luật pháp, tất cả mọi người điều phải hiểu, và lý tưởng nhất là phải hiểu giống nhau, và phải tuân thủ.

Vì luật pháp có được thông qua đồng thuận, nên vấn đề của luật pháp là kkhông bao giờ có được sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả mọi người. Con người vốn dĩ khác nhau, cùng một vấn đề thì trăm người trăm ý. Ngay cả khi có sự đồng thuận của đa số thì vẫn còn một nhóm nhỏ không đồng thuận.

Cho nên, dù đã thành luật, thì luật đó lý tưởng nhất cũng chỉ là kết quả của sự động thuận của đa số, mà sự đồng thuận đó cũng chỉ có được gián tiếp thông quan người đại diện của họ. Rất phổ biến là ý kiến của người đại diện không phải là ý kiến của người dân mà họ đại diện cho. Trong trường hợp đó, dù luật có được được quốc hội thông qua đi chăng nũa, thì luật đó cũng chỉ là luật của một thiểu số, không phải là luật của đa số người dân.

Chưa kể, bản thân luật pháp bao giờ cũng mang trong mình sự thiên vị có tính cách nội tại. Đó là sự thiên vị không thể tránh khỏi mà ở đó, quyền lợi của nhóm người làm ra luật sẽ được ưu tiên hơn so với quyền lợi của số đông còn lại. Đó là bản chất của nhận thức và của con người. Con người luôn có xu hướng ưu tiên cho quyền lợi của chính mình hơn cho quyền lợi của kẻ khác. Vậy nên, nếu tôi là người làm luật, thì luật đó sẽ phù hợp với tôi hơn là lẽ đương nhiên. Đó là lý do vì sao mà cùng một dự thảo luật, mà nhóm này đồng ý thông qua, còn nhóm khác lại nhất định chống. Mà kể cả khi đã thông qua thành luật rồi, khi nhóm khác lên nắm quyền, thì có thể họ lại tìm cách bãi bỏ dự luật đã thông qua đó. Chuyện này xảy ra khắp nơi trên thế giới. Thiết nghĩ, không cần phải bàn thêm.

Câu hỏi đặt ra: Nếu có xung đột giữa lương tâm và luật pháp, thì ta nên chọn bên nào?

Nếu là tôi, tôi sẽ chọn lương tâm thay vì luật pháp. Luật pháp có thể thay đổi, luật pháp mang trong mình sự thiên vị nội tại, nhưng lương tâm thì không.

Lý luận là thế. Nhưng lý luận chỉ là lý luận, nếu không với đến được thực tế thì cũng chỉ để giải trí. Thực tế là gì, thực tế ở đây là một chủ đề nóng hổi đang diễn ra trong nghị trường: Luật sư có nên tố cáo thân chủ của mình hay không, trong trường hợp luật sư đó biết thân chủ của mình phạm tội xâm phạm anh ninh quốc gia, hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng? Nói thế cho đầy đủ bối cảnh của vấn đề, thay vì chỉ nói là phạm tội chung chung.

Theo quy trình tố tụng, khi luật sư đã nhận lời tham gia bào chữa cho thân chủ của mình, thì thân chủ của luật sư đã bị tạm giam hoặc bị truy tố. Khi đó, hẳn các cơ quan tố tụng đã có bằng chứng về sự phạm tội của đương sự, nên không cần luật sư tố cáo nữa.

Còn nếu một luật sư biết một người nào đó phạm tội trước khi tham gia nhận lời bào chữa cho người đó, thì khi đó người luật sư chỉ là một công dân như bao công dân khác nên có quyền và trách nhiệm tố cáo theo luật định. Nhưng đó chỉ là sự tố cáo của một công dân bình thường, đã được quy định bởi pháp luật, chứ không phải với tư cách một luật sư bào chữa.

Trong cả hai trường hợp trên, luật pháp đều không cần đến sự tố cáo với tư cách luật sư mà vẫn có thể vận hành hiệu quả đúng như dự định. Thêm điều khoản luật sư tố cáo thân chủ này vào chỉ làm cho luật pháp thêm rối, lại ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của người luật sư, vì thế làm cho luật pháp trở nên kém hiệu quả.

Vấn đề sẽ trở nên khó xử hơn trong một trường hợp khác, khi người luật sư đã ký hợp đồng tư vấn pháp lý với thân chủ của mình, thì biết thân chủ đã phạm tội, hoặc có ý định phạm tội. Trong trường hợp này, người luật sư đó có nên tố cáo thân chủ của mình hay không?

Câu trả lời trong trường hợp này lại không đến từ vai trò luật sư, mà đến từ việc trả lời câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống tôi đang đối mặt này?”. Người luật sư sẽ chỉ được quyền chọn một trong hai câu trả lời: Tôi là một luật sư, hoặc tôi là một công dân. Không thể đánh đồng hai vai trò này trong một tình huống cụ thể đang nói đến, vì chúng xung đột với nhau.

Nếu anh chọn là luật sư, thì anh không nên tố cáo thân chủ của mình. Như thế là vi phạm hợp đồng dân sự anh đã ký kết, lại trái với đạo đức nghề nghiệp của người luật sư. Trong trường hợp anh thấy tội của thân chủ quá nghiêm trọng, bắt buộc phải tố cáo nếu không thì lương tâm cắn rứt, thì anh phải từ bỏ vai trò luật sư để trở thành một công dân bình thường, và thực hiện việc tố cáo đó với tư cách một công dân chứ không phải với tư cách một luật sư.

Tuy nhiên, khi làm vậy, anh phải lường trước cái giá phải trả cho sự bất tín của mình với tư cách luật sư đối với thân chủ hiện thời và với các thân chủ tiềm năng khác. Có thể từ đó về sau sẽ không còn ai ký hợp đồng tư vấn pháp lý với anh nữa. Nhưng bù lại, anh có được sự thanh thản lương tâm, vì anh thấy việc tố cáo đó là một điều thiện hảo đúng thật, anh cần phải thực hiện. Anh phải cân nhắc giữa cái giá phải trả và lợi ích mà anh thu được, trong sự soi rọi của lương tâm, rồi anh mới quyết định. Nhưng dứt khoát anh chỉ được chọn một câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống tôi đang đối mặt này?”: hoặc là luật sư hoặc là công dân. Nếu chọn là luật sư bảo vệ thân chủ thì anh không tố cáo, còn chọn làm công dân để tố cáo thì anh thôi là luật sự bảo vệ thân chủ. Anh không thể vừa làm luật sư bảo vệ thân chủ của mình, vừa tố cáo thân chủ của mình để tròn vai công dân được. Ép buộc luật sư phải tố cáo thân chủ của mình là trái với đạo đức nghề nghiệp của người luật sư.

Những lập luận ở trên cho thấy, việc một luật sư có tố cáo thân chủ của họ hay không là một vấn đề thuộc về lương tâm, thuộc về lựa chọn cá nhân, xuất phát từ tự do cá nhân và từ việc trả lời câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống mà tôi đang đối mặt?” của người luật sư. Đó là những vấn đề thuộc về phạm trù chủ quan và cá nhân. Vì thế, không thể ép buộc và càng không thể đưa thành luật định.
    ---

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

Con người tự do

Giáp Văn Dương

Triết lý giáo dục của thời đại mới phải hướng đến việc đào tạo con người tự do, thay vì đào tạo con người công cụ như hệ thống giáo dục hiện thời. Con người tự do là đích đến của giáo dục.

Tôi đã dành 22 năm của cuộc đời mình để đi học. Trong đó, 17 năm học phổ thông và đại học ở Việt Nam, và 5 năm sau đại học ở nước ngoài. Trong khoảng thời gian đó, tôi đã trực tiếp trải nghiệm ba nền giáo dục khác nhau.

Tôi cũng là một phụ huynh có ba con nhỏ. Con đi học, tôi vì trách nhiệm và vì tò mò mà dành thời gian tìm hiểu chương trình, rồi học cùng con ở hai quốc gia khác nhau nữa. Vậy tính ra, tôi đã đi qua năm nền giáo dục Á - Âu, cả trực tiếp và gián tiếp.

Vậy tôi thấy gì khác nhau trong năm nền giáo dục đó? Và quan trọng hơn, bài học nào sẽ được rút ra từ những trải nghiệm thực tế đó.

Tôi thấy rằng, dù khác nhau về văn hóa, thể chế và tôn giáo, nhưng mục tiêu giáo dục nơi đâu cũng chỉ chia ra thành hai loại: Đào tạo con người công cụ và đào tạo con người tự do.

Hai mục tiêu này không tách bạch tuyệt đối, thường lồng ghép xen lẫn vào nhau theo chủ ý hoặc vô thức do tập tục. Tùy theo mức độ công cụ hay tự do nhiều hay ít, mà hệ thống giáo dục đó sẽ tạo ra con người công cụ hay con người tự do theo cách tương ứng.

Như mọi hệ thống sản xuất khác, một hệ thống chỉ có thể vận hành trơn tru hiệu quả và không rơi vào hỗn loại khi hình dung đích xác được sản phẩm đầu ra có những thuộc tính nào. Với giáo dục, thì đó chính là việc gọi tên triết lý giáo dục thông qua việc trả lời câu hỏi cốt yếu: Hệ thống giáo dục hướng đến việc đào tạo con người nào?

Câu trả lời cho câu hỏi này hông là gì khác, mà chính là triết lý giáo dục. Chỉ khi nào câu hỏi này được trả lời rõ ràng, dõng dạc và chính danh thì triết lý giáo dục mới tỏ lộ và trở thành tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của hệ thống giáo dục. Nếu không, giáo dục sẽ rơi vào bế tắc.

Với cách hiểu về triết lý giáo dục như thế, với việc phân tích nội dung chương trình giáo dục và với những trải nghiệm về hệ thống giáo dục hiện hành, tôi hoảng hốt nhận ra rằng, triết lý giáo dục của hệ thống hiện thời là đào tạo con người công cụ.

Đó là lý do vì sao tôi đã gặp nhiều khó khăn khi ra nước ngoài du học trong những ngày đầu. Tôi gần như phải tự đào tạo lại từ đầu, không chỉ kiến thức, kỹ năng, mà còn là những quan niệm về bản thân mình và cuộc sống, và cả những giá trị mà một xã hội cần hướng tới.

Tôi hiểu rất rõ cái giá mà tôi phải trả trong suốt thời gian đó. Và sau khi tỉnh ngộ ra điều đó, tôi bắt đầu gây dựng và theo đuổi một triết lý giáo dục mới, phát biểu giản dị rằng: Con người tự do là đích đến của giáo dục.

Nói cách khác, câu trả lời cho câu hỏi “Học để làm gì?” sẽ ngắn gọn là: Học để làm người tự do.

Vấn đề đặt ra: Con người tự do là gì? Và vì sao giáo dục lại cần hướng đến việc đào tạo ra những con người tự do như vậy?

Con người tự do, như tên gọi của nó, thể hiện trước hết ở việc tự do đi tìm câu trả lời cho câu hỏi cốt yếu “Tôi là ai?”. Đó chính là tự do tư tưởng. Tư tưởng về chính bản thân mình. Con người khác với con vật ở chỗ con người biết hỏi “Người là gì, tức Tôi là ai?”, còn con vật thì không. Chính việc tự do đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này là cội nguồn của văn minh nhân loại, hình thành nên nhân tính và xã hội con người.

Mà muốn vậy, điều kiện tiên quyết là họ phải có được tự do tư tưởng để tư duy và trước khi đi đến câu trả lời cho câu hỏi tôi là ai của riêng họ đó.

Mà để tư duy hiệu quả và chính xác, họ cần thông tin như những nguyên liệu đầu vào. Vì thế, tự do tư tưởng đòi hỏi tự do thông tin như một điều kiện cần. Nếu không có tự do thông tin, sẽ không có tự do tư tưởng. Trong giáo dục, điều này có nghĩa, học sinh và giáo viên phải được quyền tiếp cận với các nguồn tư liệu và tài liệu tham khảo khác nhau, thể hiện trước hết ở nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau được lưu hành.

Trong lớp học, học sinh phải được tự do bày tỏ ý kiến và diễn giải của mình. Nội dung bài học vì thế không được phép đóng cứng vào một diễn giải cụ thể nào, dù đó là diễn giải của người thầy đáng kính. Nếu không, học sinh sẽ mắc kẹt vào một diễn giải cụ thể, làm thui chột sáng tạo và trở nên máy móc. Việc học rõ ràng không phải chỉ là ghi nhớ giải pháp của thầy cô, mà là tìm được bao nhiêu giải pháp theo cách của riêng mình cho vấn đề mình đang đối mặt.

Tự do tư tưởng vì thế gắn liền với việc dịch chuyển nhận thức để không bị đóng cứng vào một nhận thức đã có. Chỉ khi đó, người học mới có khả năng mở ra những nhận thức mới, tương thích với thời đại mới, thời đại mà những người sinh ra và dạy dỗ họ không có cơ hội để bước vào.

Việc thi cử khi đó cũng không đi theo hướng có học thuộc, biết đúng điều đã được dạy để thi hay không, mà trở thành thước đo cho sự trưởng thành của người học, mà quan trọng nhất là sự trưởng thành trong tư duy của họ, biểu hiện qua một năng lực cốt yếu: Năng lực tư duy độc lập.

Vì sao như vậy, vì nếu không có năng lực tư duy độc lập, một người dù đã bạc đầu, vẫn cần phải cậy nhờ đến tư duy của kẻ khác, do đó trên thực tế vẫn là trẻ vị thành niên. Đất nước không cần nhiều trẻ vị thành niên bạc đầu như vậy.  Đất nước cần những con người trưởng thành, có tư duy độc lập, để xây dựng một đất nước độc lập và trưởng thành.

Rồi nữa, sau khi có tự do tư tưởng, thì lại phải có một hình thức nào đó để biểu đạt cái tự do tư tưởng đó, vì thế mà tự do ngôn luận phải được hình thành. Nếu không, tự do tư tưởng chỉ diễn ra trong đầu của mỗi cá nhân, bị giới hạn bởi chính nhận thức chủ quan của cá nhân đó, do đó không mang lại lợi ích gì nhiều cho xã hội.

Con người khác con vật chủ yếu ở khả năng nhận thức và tư tưởng, trong đó có nhận thức và tư tưởng về chính bản thân mình. Vì thế, tự do tư tưởng là tầng thứ nhất, là nền móng quan trọng nhất của con người tự do.

Tầng thứ hai của con người tự do là tự do lựa chọn. Lựa chọn là cấp độ cơ bản nhất của hành động. Nhìn thật kỹ chúng ta sẽ thấy mọi hành động có nghĩa đều bắt đầu bằng một lựa chọn. Ngay cả khi không lựa chọn cũng là một lựa chọn. Vì thế, để cho sức mạnh và sự hữu ích của tự do tư tưởng được hiện thực hóa, cần thiết phải có tự do lựa chọn.

Vì sao? Vì sau khi đã có tự do tư tưởng, đã có thể tư duy độc lập, thì ta phải làm điều gì đó chứ? Không ai trả lương cho người lao động vì họ biết gì và nghĩ gì trong đầu. Người lao động được trả lương vì họ tạo ra được giá trị gì cho người sử dụng. Nếu giáo dục chỉ đào tạo ra những thế hệ học nhiều thi giỏi mà không biết làm việc, không có khả năng lựa chọn thì rõ ràng nền giáo dục đó đã sai đường.

Với giáo dục, tự do lựa chọn thể hiện trước hết trong việc được quyền lựa chọn hình thức học tập phù hợp với mình. Vì thế, bên cạnh những loại hình trường hiện có, loại hình homeschooling, tức học tại nhà, cần được thừa nhận về mặt pháp lý. Trẻ vì lý do gì đó, như sức khỏe yếu, mới ở nước ngoài về, hoặc đơn giản là muốn thay đổi cách học một thời gian, mà chọn hình thức học tại nhà thì cần được thừa nhận, miễn sao có cơ chế kiểm tra đánh giá.
Quyền tự do lựa chọn còn thể hiện ở việc được lựa chọn chương trình học tập. Vì lẽ đó, cần phải có nhiều bộ sách giáo khoa, thay vì chỉ một bộ sách giáo khoa như hiện giờ. Rồi xa hơn thế, người học cần được quyền lựa chọn giáo viên phù hợp. Vì thế hệ thống giáo dục cần phải tổ chức sao cho lựa chọn này thực hiện được, ví dụ bỏ biên chế suốt đời. Không thể nào một giáo viên kém, nhưng vì lý do nào đó, vào được hệ thống giáo dục, thì nghiễm nhiêm ở đó gần 40 năm cho đến lúc về hưu mà không có cách nào để thay thế.

Tự do lựa chọn được đặt cơ sở trên tự do tư tưởng. Tự do tư tưởng diễn ra ở bên trong bản thân mình, còn tự do lựa chọn là sự thể hiện cái tự do bên trong đó ra bên ngoài thông qua lựa chọn. Nhờ đó, tự do bên trong mỗi người được thể hiện ra đời sống, và hòa cùng tự do của người khác, trên cơ sở tôn trọng tự do của chính người khác đó.

Nhờ có tự do lựa chọn mà một người có khả năng tự quyết về cuộc đời mình, do đó làm chủ cuộc đời mình, và do đó tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình như một hệ quả tất yếu. Đó là sự trưởng thành đích thực. Đó là điều mà giáo dục hướng tới. Nếu không, xã hội sẽ thì là một tập hợp những kẻ vị thành niên, dù đầu đã bạc và khi đi học thì điểm cao ngất ngưởng.  

Nói cách khác, một người có tự do lựa chọn là một người đã có khả năng lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc đời mình, và tự chịu trách nhiệm về sự làm chủ đó. Đó chính là những phẩm chất mà một người học cần hướng tới. Lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc đời mình là thước đo cho sự trưởng thành thực sự cho người học.

Sau khi đã có được tự do tư tưởng và tự do lựa chọn, chúng ta đã thành con người tự do ở cấp độ cơ sở nhất. Nhưng con người không chỉ có tư tưởng. Con người còn có cơ thể này và muôn vàn cảm xúc và các trạng thái tinh thần đi kèm. Mỗi sự thay đổi trạng thái của cơ thể, trạng thái cảm xúc, trạng thái tinh thần thì đều tạo ra một sự trở thành mới. Nguồn gốc của những sự trở thành mới này là sự tương tác của những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, cũng như sự kết nối của những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình đó.

Tầng thứ ba của con người tự do sẽ là tự do trở thành, tức được tự do trong việc quyết định trở thành người mình chọn để trở thành. Nó bao gồm tự do thân thể, tự do biểu đạt cảm xúc, tự do biểu lộ tinh thần. Sự thay đổi của chúng chính là sự thay đổi của chúng ta. Người học phải nhận biết và làm chủ được những sự thay đổi đó,  thông qua lựa chọn trong tự do và sau khi suy xét.

Vì thế, tự do trở thành đặt cơ sở trên tự do lựa chọn và tự do tư tưởng.

Cho đến nay, tự do thân thể đã được pháp luật bảo hộ, nhưng nhiều khi còn mâu thuẫn khi triển khai. Quyền tự do thân thể chưa được nhận thức đúng. Bạo hành trong gia đình và nhà trường, một sự xâm phạm tự do thân thể điển hình, vẫn xảy ra thường xuyên. Bạo lực học đường bùng phát cũng là chỉ dấu xấu cho thấy tự do thân thể đã bị xâm phạm ngay trong môi trường trong sáng nhất là nhà trường.

Còn tự do biểu đạt, dù là cảm xúc hay tinh thần, gần như ít khi được xét đến. Một phần do văn hóa truyền thống, một phần do giáo dục đã bỏ qua thứ tự do trở thành này, nên con người không được sống thật với cảm xúc và các giá trị tinh thần của mình, lại càng không dám biểu đạt chúng ra cho người khác thấy. Tất cả những điều này đều không tốt cho sức khỏe tâm thần, cho sức sáng tạo, và rộng hơn là cho một xã hội lành mạnh.

Vì sự trở thành có nguồn gốc từ sự kết nối và phản ứng với những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, tự do trở thành vì thế là cơ sở cho sự triển khai việc sống của một người ở trong đời sống. Nhờ đó, một người có thể tự phát triển bản thân mình, tự hoàn thiện việc sống của mình trở nên lịch lãm, tinh thông và đẩy việc sống trở thành một nghệ thuật đáng ngưỡng mộ.

Khi đó, người ấy không chỉ trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?”, mà còn có thể trả lời được câu hỏi cốt yếu khác, như: Ý nghĩa cuộc sống là gì? Ta đang đi qua cuộc sống này như thế nào?, Ta sẽ làm gì với cuộc đời mình? Trên tất cả, những câu trả lời này sẽ không chỉ đến được từ lý trí nhờ tự do tư tưởng, mà đến từ toàn bộ khối trải nghiệm của mình ở trong đời sống, chân thật như một phần của đời sống đang-là.

Tầng thứ tư của con người tự do là tự do kiến tạo, có được trên nền móng từ ba thứ tự do đã nói ở trên. Tương lai của một con người, tương lai của một quốc gia, nằm ở thứ tự do kiến tạo này.

Vì con người ta chỉ có thể sống ở thì hiện tại, tức ở cái bây-giờ, nên cả bốn tầng bậc tự do này đều diễn ra ở thì hiện tại. Tuy nhiên, tự do kiến tạo lại có mục tiêu hướng đến tương lai, cụ thể là kiến tạo một tương lai tốt đẹp hơn so với những gì đang có.

Tự do kiến tạo vì thế là tự do trong việc tư tưởng, lựa chọn và trở thành một tương lai mới tốt đẹp hơn, hiệu quả hơn, xứng đáng hơn. Điều này là cần thiết, vì nếu không, mỗi người và do đó cả xã hội, sẽ chỉ giậm châm tại chỗ mà không tiến lên được bước nào trên hành trình phát triển.

Tuy nhiên, có được tương lai kiến tạo không hề dễ. Một người chỉ có thể kiến tạo tương lai nếu tương lai đó đã được kiến tạo trong tâm trí mình trước hết. Do đó, tự do kiến tạo lại trở về với nền móng ban đầu của nó, đó là tự do tư tưởng. Không có tự do tư tưởng sẽ không có tự do kiến tạo.

Vì nhận thức của con người là kết quả của một chuỗi những trải nghiệm mà họ đã kinh qua, nên họ chịu giới hạn bởi chính những trải nghiệm họ đã kinh qua đó. Nói cách khác, nhận thức của chúng ta bị giới hạn bởi chính nhận thức của chúng ta ở trong quá khứ. Vì thế, nếu không ra khỏi quá khứ, tương lai sẽ bị giam hãm bởi chính quá khứ. Lịch sử của đất nước chúng ta trong mấy chục năm gần đây đã minh chứng cho điều này, rằng quá khứ vẫn còn đang ngự trị. Với giáo dục thì điều này lại càng trở nên rõ nét, khi cải cách giáo dục cứ mãi sa vào sự vụ hết lần này đến lần khác mà không ra khỏi được bế tắc do chính quá khứ mang lại.

Vì vậy, để có được tự do kiến tạo, giáo dục phải là cho người học có khả năng vượt qua những rào cản nhận thức gây ra bởi quá khứ. Nói cách khác, giáo dục phải có khả năng làm cho người học vượt thoát khỏi những giới hạn do chính giáo dục mang lại. Điều này thể hiện trước hết ở khả năng thay thế những nhận thức cũ, giá trị cũ, tham chiếu cũ băng những cái mới. Nhờ đó, chúng ta có thể vượt qua chính mình để tạo chính mình.

Thực tế cho thấy, ai không làm chủ cuộc sống sẽ bị cuộc sống làm chủ. Ai không làm chủ tương lai sẽ bị tương lai gạt bỏ ngoài lề. Tự do kiến tạo vì thế là thứ tự do vượt thoát chính mình để tồn tại và phát triển.

Một con người tự do như thế, tức một con người có tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành và tự do kiến tạo, là một con người của thời đại mới. Và cũng chỉ một con người tự do như thế mới có khả năng sống một cuộc đời đáng sống, cho mình và xã hội.

Đó là lý do vì sao tôi luôn tâm niệm rằng, triết lý giáo dục của thời đại mới phải hướng đến việc đào tạo con người tự do, thay vì đào tạo con người công cụ như hệ thống giáo dục hiện thời.

Con người tự do là đích đến của giáo dục.

---
Ghi chú: Bản rút gọn của bài này đã đăng trên mục Góc nhìn của Vnexpress.net.

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Trẻ con và người lớn

Giáp Văn Dương

Trong bài luận để đời: trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì? I. Kant đưa ra nhận định: Khai sáng là sự vùng thoát của con người ra khỏi tình trạng vị thành niên do chính con người gây ra.



Thời niên thiếu, vị Tổng thống vừa đắc cử của Pháp Emmanuel Macron đã được xem là trưởng thành trước tuổi nên ông chỉ giao du với người lớn hơn.

– Vì sao lại phải vùng thoát?

– Vùng thoát khỏi cái cái gì?

– Vì sao lại vị thành niên?

Chỉ một nhận định của Kant mà biết bao vấn đề cần phải khám phá. Biết bao câu hỏi cần phải trả lời.

Bài luận này I. Kant viết năm 1784 ở nước Đức xa xôi. Có liên hệ gì với ta mà lại mang ra đây bàn thảo?

Thì đây: một trăm năm chục năm sau ở nước Nam ta, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu buột miệng than một câu như sấm: Dân hai nhăm triệu ai người lớn/ Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Dù Tản Đà không sống cùng thời với Kant, cũng không sống cùng đất nước của Kant, nhưng lời than nghe ra có gì phảng phất điều Kant đã nói. Rồi thời gian trôi chảy. Rồi bể dâu trồi sụt không ngừng. Trăm năm sắp trôi qua mà câu thơ của Tản Đà vẫn sừng sững như một sự thách đố. Đứa trẻ sinh ra khi cùng với câu thơ của Tản Đà nay đã gần trăm tuổi. Đầu đã bạc phơ phơ và lên chức cụ. Nhưng liệu cụ đã thành người lớn?

Dân số của nước Nam giờ cũng đã gần trăm triệu. Nhưng “ai người lớn?” Không ai dám chắc. Vì sao? Vì những câu hỏi ở đầu bài này, ngay sau lời trích dẫn của Kant, vẫn còn buông lửng. Đành tự hỏi:

– Vì sao phải vùng thoát?

– Vì nếu không vùng thoát thì ta cứ mãi ở trong đó. Đó là tấm nệm êm ái, càng nằm lâu càng lún sâu. Không vùng thoát ra, ta sẽ chìm vào nó mãi.

– Nhưng vùng thoát thì đó là vùng thoát cái gì?

– Thì vùng thoát khỏi nó. À mà không, vùng thoát khỏi chính ta. Vùng thoát khỏi sự tăm tối của chính ta, do chính ta gây ra. Vùng thoát khỏi chính ta để ta trở thành người khác.

– Người khác là người nào?

– Là người qua ngưỡng vị thành niên, tức người trưởng thành. Đừng tưởng trăm tuổi là đã trưởng thành. Râu tóc bạc phơ vẫn có thể vị thành niên như thường…

Ông lão sinh ra cùng năm với câu thơ sấm của Tản Đà đi qua, bất giác hỏi:

– Sao lại có chuyện oái oăm như thế. Như ta đây, trăm tuổi đích thị là ông lão, sao lại gọi là trẻ con?

– Xin thưa, ông lão vẫn là ông lão. Không ai dám tranh chức ấy của lão cả. Nhưng trẻ con vẫn là trẻ con. Không ai dám chắc mình không còn trẻ con cả. Trẻ con ở đây là trẻ con về mặt trí tuệ. Trăm tuổi đời mà trí tuệ có khi chỉ như trẻ lên mười.

– Anh nói nhảm. Đã trăm tuổi thì sao trí tuệ lại như trẻ lên mười?

– Việc lớn việc nhỏ cứ không dám nghĩ dám làm, cứ ngước mắt lên chờ chỉ thị ban xuống, thì đích thị là trẻ lên mười chứ sao hả cụ.

Vậy là đã gần trăm năm rồi vẫn cứ trẻ lên mười không chịu trưởng thành. Tuy danh xưng là lão, nhưng đích thực là Lão Nhi Đồng. Nếu không, đã chẳng sống dai như vậy.

À ra thế! Đến bây giờ ta đã mang máng hiểu lời Kant. Sự vùng thoát là vùng thoát ra khỏi trạng thái nhi đồng. Nếu không, ta sẽ chìm mãi trong tuổi nhi đồng, không chịu lớn. Ta sẽ ôm ấp mãi trạng thái vị thành niên, không chịu trưởng thành. Vậy nên mới phải vùng thoát ra khỏi cái trạng thái vị-thành-niên-không-chịu-trưởng-thành.

– Nhưng cái ông Kant nói vậy nghĩa là sao?

– Là ông ấy bảo, vị thành niên hay không là vị thành niên thì chẳng liên quan gì đến tuổi tác. Điều ông ấy nói là sự trưởng thành về mặt trí tuệ. Có khi, trăm tuổi mà vẫn như trẻ con cụ ạ.

– Nhà ông Kant nói phải. Càng già lại càng giống trẻ con. Nhưng nghe ông ấy nói, cụ thấy vẫn có gì không ổn…

– Không ổn chỗ nào hả cụ?

– Thì ông ấy cứ nói khơi khơi. Nói phải có sách, mách phải có chứng, thì người ta mới chịu.

– Thế theo cụ, phải thế nào mới là nói có sách, mách có chứng?

– Thì phải cho cái thí dụ. Có người nào đầu bạc nhưng vẫn vị thành niên. Nếu không, thì cụ thấy như ông ấy đang cạnh khoé…

– À, cái này thì dễ lắm. Tiếc là ông Kant không có ở đây, nên cháu đưa ra thí dụ thay cho ông ấy vậy. Nhưng trước khi đưa ra thí dụ, cháu muốn hỏi cụ: theo cụ, tiêu chuẩn nào để phân biệt một người là trẻ con và một người được coi là trưởng thành?

– À… Ờ… Ờm. Lớn lên, lấy vợ lấy chồng sinh con để cái thì gọi là trưởng thành. Còn trước, thầy u đặt đâu con ngồi đấy thì gọi là trẻ con.

– Nhưng tại sao thầy u đặt đâu thì cụ lại ngồi đấy?

– Thì tại vì như thế!

– Tại vì như thế là tại sao hả cụ?

– Thì là tại vì như thế? Một câu tiếng Việt mà anh không hiểu. Anh định gây sự với cụ à?

– Dạ không. Cháu chỉ muốn hỏi “Tại vì như thế” là có nghĩa là sao ạ.

– Là tại vì như thế chứ thế nào. Thật là ấm ớ nhà cái anh này.
---

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Giáo dục bế tắc

Giáp Văn Dương

Năm 1999, tôi 23 tuổi vừa tốt nghiệp đại học thì được ở lại trường làm giảng viên của một đại học lớn.

Lứa của tôi được đào tạo ra để đón nhà máy lọc dầu Dung Quất. Nhưng nhà máy lại khánh thành những 10 năm sau khi chúng tôi ra trường. Nên trong suốt quá trình học, chúng tôi toàn học chay. Nếu có thực tập, thì cũng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa một cơ sở sản xuất nào đó.

Tình cảnh đó cũng góp phần làm cho tôi thay vì trở thành một kỹ sư chế biến dầu, lại thành một giảng viên đại học.

Công việc ở trường cứ thế mà chạy, coi như ổn định. Lương tuy thấp, nhưng không đến nỗi chết đói ngay. Nếu chịu khó dạy thêm bên ngoài thì vẫn có thể sống được. Trong các câu chuyện thường ngày, nếu có lúc nào đó chạm đến chữ lương, thì ngay sau đó sẽ có người an ủi: Lương vậy, nhưng có thầy nào chết đói đâu. Thậm chí có thầy còn giàu.

Tôi coi đó như một sự động viên, dù tôi không biết làm thế nào để có thể sống, chứ chưa nói là giàu, với hệ số lương khởi điểm là 1.92 và sẽ tăng thêm 0.24 sau mỗi ba năm làm việc. Nhưng tôi yêu công việc tôi đã chọn. Bên cạnh việc giảng dạy, tôi cũng bập vào làm nghiên cứu, như bao giảng viên trẻ khác.

Mọi việc sẽ cứ diễn ra như vậy, nếu như tôi không nhận ra rằng: Tôi không có đủ vốn sống để dạy học. Tôi ở đây, các em sinh viên ở kia, tin tưởng và chờ đợi. Nhưng ngoài chuyện bài vở, những thứ mà tôi cũng học lại từ sách vở hoặc thầy của mình, thì gần như tôi không còn gì khác để hướng dẫn các em. Những trải nghiệm sâu xa về nghề nghiệp gần như không có.

Lúc ấy, tôi bỗng nhận thấy, giảng dạy đúng nghĩa thực ra là vô cùng khó. Thuộc giáo trình, tinh thông bài tập, tuân thủ đúng quy trình, cũng không có nghĩa là sẽ làm tốt công việc này. Người dạy học đúng nghĩa cần nhiều hơn như thế rất nhiều.

Ngẫm nghĩ kỹ hơn, tôi nhận thấy, nền giáo dục hiện thời hóa ra là một dây chuyền sản xuất hàng loạt. Nếu không có một góc cho riêng mình, sản phẩm sẽ là những con người giống hệt nhau, như được đúc ra từ một khuôn vậy.

Tôi cũng khám phá ra rằng, công việc của tôi thực ra là một bộ phận của một hệ thống được thiết kế rất chặt chẽ. Nhưng mục đích của cái hệ thống đó là gì thì chưa bao giờ được phát biểu tường minh.

Học để làm gì, chúng tôi không hề rõ. Dạy để làm gì, chúng tôi cũng không hề chắc chắn. Chúng tôi chỉ biết rằng, đã bước chân vào cỗ máy giáo dục, thì cứ thế mà thực hiện. Người dạy cứ dạy, người học cứ học. Đến ngày đến giờ thì thi. Thi xong thì tốt nghiệp. Tốt nghiệp xong thì ra trường. Ra trường xong thì đi xin việc. Nhiều người sẵn sàng chi trả cả mấy trăm triệu chỉ để có một chỗ làm, với mục tiêu vào biên chế để ổn định cho đến ngày nhận sổ hưu.

Nhưng trong suốt quá trình dạy và học, những câu hỏi rất cơ bản như: “Học để làm gì? Dạy để làm gì? Dạy và học như vậy có phải là đúng cách? Nếu không thì có cách nào tốt hơn không?...” thì cả thầy và trò rất hiếm khi đặt ra.

Tất cả bị phủ kín bởi những nhận định rất chung chung: Học để làm người. Học để trở thành người có ích cho xã hội. Còn nghề dạy học là nghề cao quý. Nhưng gần như không có một ai đi xa thêm một bước, chẳng hạn: Người là gì? Hay con người mà hệ thống giáo dục hướng đến là gì?

Vậy là tôi quyết định đi du học. Ban đầu tôi chỉ tính đi một nước châu Á và một nước châu Âu, trong vài năm để hiểu rõ ngọn ngành. Nhưng cái hiểu rõ ngọn ngành đó hóa ra không dễ chút nào. Thế giới mà tôi khám phá ra quá khác so với hình dung của tôi lúc ban đầu. Bên cạnh những câu hỏi về chuyên môn thì những câu hỏi về nhân sinh và xã hội, xem ra khó trả lời hơn rất nhiều.

Để có thể tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi đó, tôi đã phải tập quên đi tất cả những gì mình đã được học để tìm hiểu và đón nhận những quan điểm mới. Tôi mất chẵn 10 năm để làm việc này. Đó là lúc, khi tôi nhận ra rằng, à thì ra, hệ thống giáo dục mà tôi đã trải qua là một hệ thống đào tạo con người công cụ, nặng về tuân thủ mà yếu về sáng tạo.

Quan sát và tìm hiểu sâu hơn, tôi bàng hoàng nhận ra rằng: Mọi bế tắc của hệ thống giáo dục hiện thời đều bắt nguồn từ bế tắc về triết lý giáo dục, mà cụ thể là bế tắc trong việc phát biểu tường minh về con người mà hệ thống giáo dục đang hướng tới.

Nói cách khác, hệ thống giáo dục cần một triết lý xuyên suốt để vận hành. Nhưng các cơ quan quản lý giáo dục đã không thể phát biểu tường minh triết lý đó để làm kim chỉ nam cho việc xây dựng và điều phối mọi hoạt động của hệ thống giáo dục. Vậy nên dù cải cách nhiều lần thì vẫn rơi vào vá víu sự vụ, và do đó thất bại.

Nhưng cái nguyên tắc xuyên suốt đó, tức cái triết lý giáo dục đó là gì, mà không ai dám gọi tên và phát biểu một cách tường minh? Tôi quan sát dưới các bài viết về triết lý giáo dục tại mục 'Góc nhìn', có rất nhiều độc giả tự hỏi điều đó. Thì đây, một cách ngắn gọn: Triết lý giáo dục của hệ thống hiện thời là đào tạo con người công cụ.

Cách thức thiết kế và triển khai chương trình giáo dục hiện thời cho thấy, đào tạo con người công cụ là điểm hội tụ của tất cả các hoạt động này. Đó là lý do vì sao thầy thì không dám chệch khỏi chương trình định sẵn, trò thì thụ động, nhân lực thì kém sáng tạo. Doanh nghiệp thì kém cạnh tranh. Nền kinh tế thì kém phát triển.

Nhưng nay cách mạng công nghiệp 4.0 đang lừng lững tới, những con người công cụ sẽ không có cách nào để cạnh tranh được với máy tính, robot và trí tuệ nhân tạo. Những con người không thể sáng tạo sẽ đi đâu về đâu? Họ sẽ sống thế nào? Và ai chịu trách nhiệm vì đã tạo ra những con người như thế?

Tất cả đã và sẽ còn được lý giải trong một mệnh đề tiêu biểu: “Có ai chết đói đâu”.

---

Bài đã đăng trên Góc nhìn của Vnexpress, ngày 20/5/2017

Phạt trẻ, có nên nhốt vào toilet?

TPO - Một ngày xa xưa, đâu như năm 2003 thì phải. Con gái tôi lúc đó 3 tuổi, mới đi học mẫu giáo những ngày đầu. Tất nhiên là khóc. Nhưng thường chỉ khóc lúc đi, chứ về nhà là vui như Tết. Bỗng một hôm nức nở con không đi học nữa, con không đi học nữa. Hỏi ra thì biết vì con sợ. Vì sao? Vì cô nhốt một bạn hay nghịch vào nhà vệ sinh.
TS. Giáp Văn Dương, người khai mở và đào tạo dòng giáo dục khai sáng.
TS. Giáp Văn Dương, người khai mở và đào tạo dòng giáo dục khai sáng.
Con bảo, trong nhà vệ sinh chỉ có một mình. Sợ lắm. Mà đúng là sợ thật. Mình là người lớn mà bị nhốt vào nhà vệ sinh còn sợ nữa là trẻ nhỏ. Khi làm việc đó, chắc cô chỉ nghĩ đó là một hình phạt. Một hình phạt an toàn và chấp nhận được. Nhưng đó là an toàn về thể xác. Còn về tinh thần thì hoàn toàn không. Cô không bao giờ nghĩ ra được phía sau hình phạt đó là những gì còn ẩn giấu. Có thể các bậc cha mẹ cũng không bao giờ nghĩ đến chuyện đó, vì cũng đã phạt con bằng việc nhốt vào nhà vệ sinh như vậy.
Vậy thì cái gì ẩn giấu phía sau hình phạt này?
Đó là tước đoạt tự do và sự kết nối. Chính là sự tước đoạt này mới làm cho con sợ hãi và cảm thấy sốc. Bản chất của việc tống vào tù là gì, nếu không phải là tước đoạt tự do. Ở các nước Bắc Âu, đi tù vẫn được ăn ngủ đầy đủ, phòng có lò sửa, có ti vi, gường có đệm, có nước nóng. Có cả các phương tiện thể thao, giải trí khác. Duy chỉ một thứ không có, đó là tự do. Tống vào tù, bản chất là tước đoạt tự do. Mà tự do lại gắn liền với nhân phẩm, tức tính người.
Chỉ con người mới có khái niệm, và trải nghiệm về tự do có ý thức, còn các loài động vật khác thì không. Trong các khóa học về khai sáng mà tôi giảng dạy, tôi hay lấy một ví dụ: Chỉ con người mới có khả năng biết tự đặt ra câu hỏi: Người là gì? Từ đó, mới có thể sống một cuộc đời xứng đáng với cuộc đời của một con người.
Các loại động vật khác thì không có khả năng tự hỏi như thế. Chẳng hạn, con trâu không có khả năng tự hỏi “Trâu là gì?”. Nếu nó biết đặt ra câu hỏi “Trâu là gì?” thì sao? Thì khi đó nó sẽ không cam tâm bị giam hãm trong chuồng để kéo cày cho mình nữa. Vì khi biết tự đặt ra câu hỏi “Trâu là gì?” đó, sớm hay muộn thì con trâu đó cũng sẽ trở thành một con trâu tự do. Nó có đủ sức mạnh để phá tung chiếc chuồng vẫn đang giam hãm, để bắt đầu sống một cuộc đời đích thực của con trâu, ít nhất cũng theo cách hiểu của nó và theo cách mà nó lựa chọn.
Khi đó, con trâu sẽ không cam tâm kéo cày cho mình nữa. Bởi vì, trong sâu thẳm nó đã trở thành một con trâu tự do, không phải là một con trâu công cụ.
Nhưng chúng ta rất ít người tự đặt ra câu hỏi “Người là gì?” đó, vì thế về bản chất, cuộc sống của ta cũng không khác cuộc sống của một con trâu bao nhiêu. Đó là lý do vì sao cứ mở miệng ra là ta than, đã cày cả ngày hôm nay rồi, hoặc ta tự nhủ cày tiếp đây khi nói về công việc của mình. Mình gọi công việc của mình là cày. Mình cày, trâu cũng cày. Vậy cuộc sống của mình và cuộc sống của trâu có gì khác nhau?
Có gì khác nhau?
Tất nhiên là phải có gì đó khác nhau. Sự khác nhau nằm duy nhất ở chỗ, ta biết đặt hỏi “Người là gì?”, còn trâu thì không biết hỏi “Trâu là gì?”. Còn những thứ khác, như sức khỏe hay sự chăm chỉ ta không chắc đã hơn trâu. Ta cũng không khỏe hơn, hay nhanh nhẹn hơn các loài động vật hổ báo khác.
Như vậy, chỉ con người mới có ý niệm và trải nghiệm về con người tự do. Nhưng ta đã đánh mất khả năng đặt ra câu hỏi đó, chủ yếu thông qua cách thức giáo dục không phù hợp. Vì thế mà ta phải cày như trâu…
Đây là ví dụ tôi thường nêu ra trong các khóa học về khai sáng, chẳng hạn khóa học “Tôi là ai?”.
Tôi là ai? Thoạt nghe có vẻ kỳ cục. Tôi là ai? Tôi là tôi chứ tôi là ai nữa! Ai đó sẵn sàng quát lên như vậy.
Bình tĩnh. Nghe qua thì tưởng là đơn giản. Nhưng ngẫm kỹ thì không phải là như vậy. Nếu ai cũng biết được “Tôi là ai?” thì trên đời này còn gì đau khổ nữa. Nhưng thôi, tôi không nói ở đây nữa kẻo lại không biết “Tôi là ai?”.
Giờ trở lại việc con bị nhốt trong nhà vệ sinh, ngoài việc tự do bị tước đoạt, thì còn một sự thật khác cũng nghiêm trọng không kém. Đó là sự kết nối cũng bị tước đoạt đồng thời cùng với tự do. Là một con người, chúng ta cần sự kết nối với tự nhiên và với đồng loại. Chính sự kết nối này tạo ra chúng ta như một con người. Cũng nhờ sự kết nối này mà chúng ta tồn tại được, và chúng ta sống cuộc sống của một con người.
Do đó, tước đoạt kết nối cũng là tước đoạt tính người. Vì thế, những người phạm tội rất nặng thì người ta sẽ không chỉ bị phạt tù, mà bị đi đày biệt xứ, đến những nơi hoang vu không một bóng người. Đi đày biệt xứ là hình phạt nặng hơn đi tù. Vì đi tù thì chỉ tước đoạt tự do, nhưng vẫn duy trì kết nối ở mức độ thấp, còn đi đày là vừa bị tước đoạt tự do, vừa bị tước đoạt kết nối.
Ai muốn thực sự hiểu điều này, thì lại phải trở về với câu hỏi nhân sinh cơ bản nhất “Tôi là ai?” như đã nói ở trên, vì trong trường hợp này “Tôi là ai?”. Tôi chính là sự kết nối.
Bên cạnh việc bị tước đoạt tự do và kết nối thì việc bị nhốt vào toilet sẽ tệ hơn nhiều so với bị nhốt vào nhà kho hay bất cứ chỗ gì khác. Nhốt trẻ vài toilet là trực tiếp nói với trẻ, một cách mạnh mẽ thông qua hành động, rằng con không có giá trị gì. Con là đồ bỏ. Chỉ những đồ bỏ mới bị tống vào toilet. Chỉ những thứ xả thải đi mới bị tống vào toilet. Nhốt trẻ vào toilet tức là trực tiếp nói với trẻ như thế.
Cảm giác này tuy rất mơ hồ, nhưng rất đáng sợ. Chúng ta không thể dùng lý luận để phân tích ở đây rằng thầy cô hay cha mẹ không có ý định đó. Nhưng sự việc là như thế, nó hiện ra như thế, nói mách bảo rằng tôi không có giá trị gì nên mới bị tống vào toilet, nơi chuyên xả bỏ những thứ bị coi là bẩn thỉu, cần phải rục bỏ. Ngay cả người lớn chúng ta, chỉ cần hình dung bị ai đó tống vào toilet, thì trực giác đã ùa đến mách bảo rằng vì không có giá trị gì nên mới bị tống vào nơi đó. Không tin, bạn cứ thử hình dung mình bị sếp hay ai đó to hơn mình nhốt vào toilet mà xem. Sẽ thấy ngay kết quả.
Như vậy là bằng hình phạt nhốt vào toilet, cô đã tước đoạt thành công cả tự do và kết nối của một đứa trẻ. Đồng thời bồi thêm một cú nữa, bằng cách cho nó biết rằng nó không có giá trị gì, chỉ đáng bỏ vào toilet. Vậy nên mới đáng sợ. Vậy nên mới ám ảnh.
Như vậy là cô đã chiến thắng con 3-in-1 hết sức dễ dàng. Cha mẹ nào đang nhốt con vào toilet là cũng là đang tìm kiếm một chiến thắng 3-in-1 như thế. Yeah! Đập tay!
Tuy cô phạt các con thành công theo cách này, và rất có thể lần sau con không dám như thế nữa, nhưng tổn thương tâm lý rất lớn. Con tôi chỉ chứng kiến cảnh đó mà sợ chết khiếp, nên nhất định đòi bỏ học. Mới đi học được vài ngày đã đòi bỏ học thì thật là khó xử. Mà lý do thì vô cùng chính đáng. Mình đường đường là người lớn thế này, đi làm mà bị sếp dọa nhốt vào toilet, chứ chưa cần nhốt thật, là mình bỏ việc ngay tắp lự!
Vậy mà con có thể bị nhốt vào toilet. Thật là nan giải. Làm sao bây giờ?
À, không sao, con. Cái này là chỉ dành cho những bạn hư thôi. Con ngoan thì không bao giờ bị nhốt vào toilet. Vợ tôi đã động viên con như thế. Vì chẳng còn cách nào hơn thế. Vậy là con lại tiếp tục đi học.
Con đi học nhưng nỗi ám ảnh bị nhốt vào toilet thời thơ ấu mười mấy năm sau vẫn còn trở lại.
Còn các thầy cô và cha mẹ khác, vẫn sẵn sàng nhốt con em mình vào toilet để trừng phạt mà không một lần tự hỏi hậu quả của việc đó là gì.
Haizzz….
---
Bài đã đăng trên Tiền Phong, ngày 9/5/2017

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

Nỗi buồn học tại gia


Giáp Văn Dương
Đầu năm 2013, gia đình tôi về nước sau hơn chục năm sống ở nước ngoài. 

Trước khi về, tôi đưa cả nhà đi xem một bộ phim, trong đó có câu thoại chế giễu nhân vật chính rất ấn tượng, đại ý: Mi không thuộc về đâu nên mi không có sức mạnh. Xem xong, tôi nói với con: Chúng ta sẽ trở về, vì chúng ta không thuộc về đất nước này.

Thế là con gái tôi đồng ý. Và chúng tôi trở về.

Dù đã lường trước những khó khăn, nhưng mọi thứ vượt xa hình dung ban đầu. Nan giải nhất là việc học của con gái tôi. Con tôi lúc đó tiếng Việt không thạo, không có bạn bè, lại không quen với văn hóa ở nhà nên việc hội nhập rất vất vả. 

Chúng tôi định cho con homeschooling, tức học tại nhà chứ không đến trường, để giảm bớt khó khăn cho con. Nhưng đây lại là quyết định rất khó khăn của chúng tôi. Liệu sau này con có oán trách? Liệu mình có đủ thời gian và kiến thức để dạy con? Liệu con có thể phát triển bình thường khi không có bạn học? Nếu sau vài năm con chán homeschooling, muốn đến trường thì làm thế nào? Con sẽ hòa nhập với xã hội ra sao nếu chỉ học ở nhà cùng bố mẹ?

Chúng tôi cũng nghĩ đủ cách, như cho con ghi danh học bổ túc văn hóa nhưng không đến trường, đến ngày đến tháng thì đi thi, nhưng cũng thấy có gì đó không ổn. Rồi tôi tìm hiểu và được biết, nếu muốn homeschooling thì chỉ còn một cách: Học bằng tiếng Anh và thi lấy chứng chỉ IGCSE của Anh để đi du học.

Nhưng con tôi cần học bằng tiếng Việt chứ không phải tiếng Anh. Nếu học bằng tiếng Anh thì việc trở về hóa ra vô nghĩa? Bế tắc vẫn hoàn bế tắc. Giải pháp lúc đó là tự động viên nhau: Thôi cứ ở nhà vài năm, nếu không hòa nhập được thì lại đi, lo gì. Và mọi việc đã diễn ra trong sự "lo gì" như thế. 

Rồi một hôm, con quả quyết: Con muốn trở lại nước ngoài, vì con cũng không thuộc về nơi này.

Tôi lặng trong giây lát, rồi nói cứng: Cuộc đời mỗi người là một câu chuyện mà mình là tác giả. Bố về để viết câu chuyện của bố. Con cũng cần phải tự viết câu chuyện của con. Nếu con muốn đi nước ngoài, hãy tự đi bằng đôi chân của con, chứ không phải bằng đôi chân của bố.

Vậy là con tôi tỉnh ra, không còn oán trách bố mẹ vì đã trở về.

Nhưng rốt cuộc, việc homeschooling của con tôi dừng lại, chủ yếu vì đất Hà Nội này quá chật chội, không có công viên để con chơi, tôi sợ con không có bạn sẽ rơi vào trầm cảm. Mà tiếng Việt của con còn kém, nên con phải đến trường để học đủ các môn bằng tiếng Việt, chứ ở nhà học bằng tiếng Anh thì không ổn. Thế là con được nếm mùi trần ai với nhiều nước mắt. Có những lúc rơi vào trầm cảm, tưởng chừng không thể vượt qua. Nhưng rất may, con đã vượt qua rất nhiều rào cản để về đích xuất sắc. 

Qua chuyện đó, tôi hiểu được nỗi khổ của những gia đình và học sinh gần đây đang cân nhắc hình thức homeschooling. Đó là nỗi khổ của kẻ không-được-thừa-nhận. Khi bạn không được thừa nhận, bạn sống như một kẻ bên lề. Bạn có thể rất giỏi nhưng không có cách nào để được công nhận. Bạn cũng không được dự thi để xác nhận trình độ. Rồi một ngày nào đó, nếu không muốn homeschooling nữa, muốn đến trường như các bạn đồng lứa khác, bạn cũng không có cách nào để thực hiện. 

Homeschooling ở Việt Nam chưa được thừa nhận. Ở các nước Âu Mỹ, tự dạy con học là một lựa chọn của phụ huynh. Chỉ cần đăng ký với phòng giáo dục rồi cho con học tại nhà theo chương trình tự thiết kế, hoặc chương trình của một trường hay của một công ty giáo dục nào đó, rồi cuối kỳ thì đến một trường gần nhà để thi học kỳ cùng các trẻ khác. Kết quả kiểm tra được ghi nhận. 

Về lý mà nói, nếu đã thừa nhận học tập là quyền của trẻ em như nêu trong Luật Giáo dục, thì dù học bằng hình thức homeschooling, khi trẻ muốn trở lại trường, trẻ phải được tiếp nhận. Không tiếp nhận là trái với Luật Trẻ em.

Gian nan là thế, nhưng giải pháp cho homeschooling Việt Nam lại rất đơn giản. Chỉ cần Bộ Giáo dục ban hành một văn bản yêu cầu cha mẹ phải đăng ký với phòng giáo dục địa phương về việc chọn hình thức homeschooling cho con mình, và cho phép học sinh đến cuối kỳ, cuối năm thì được phép đăng ký thi cùng với học sinh bình thường ở một trường nào đó. Kết quả được công nhận như các học sinh bình thường khác. Nếu cha mẹ không đảm bảo thế, sẽ phải cho con đi học theo luật định. 

Một văn bản như vậy sẽ cứu vớt được bao nhiêu trẻ vì lý do riêng mà chọn homeschooling, bao nhiêu tài năng tiềm ẩn cần chương trình giáo dục riêng biệt, và bao nhiêu gia đình khát khao được nuôi dạy con theo cách của riêng mình. 

Giáo dục tinh hoa của quý tộc châu Âu ngày xưa, và cả châu Á, chính là homeschooling. Con cái quý tộc, hay những gia đình có điều kiện, được học tại gia cùng gia sư. Chỉ đến khi cách mạng công nghiệp 1.0, 2.0 ra đời, nền đại công nghiệp cần nhiều lao động, cha mẹ đi làm công nhân hết, không có người trông con đành gửi tập trung vào nhà trẻ. Ban đầu chỉ giống như trông trẻ tập trung. Nhưng sau đó nền công nghiệp cần nhiều lao động có kỹ năng, nên thay vì chỉ trông trẻ, nhà trường đào tạo các con thành người mà nền công nghiệp cần, đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội.

Hệ thống giáo dục hiện đại đã ra đời theo cách giản dị như thế. Hệ thống này được thiết kế trước hết để tạo ra những con người đáp ứng nhu cầu lao động, tức một nguồn cung hàng hóa sức lao động theo luật cung-cầu. Vậy nên, nhà trường được thiết kế theo hướng đào tạo hàng loạt, vận hành dưới dạng băng chuyền như nền công nghiệp đang vận hành. Các nhà quản lý giáo dục lại áp thêm các kỹ năng quản trị chuyên nghiệp để đảm bảo chất lượng, lại thêm cả việc kiểm tra chuẩn hóa đầu ra. Nói gọn là sản xuất hàng loạt nhanh - nhiều - tốt - rẻ theo quy trình công nghiệp. 

Con người được tạo ra bởi nền giáo dục như vậy xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới. Mục tiêu của một hệ thống giáo dục như thế, tất nhiên sẽ ưu tiên tạo ra những con người công cụ, chứ không phải là con người tự do, mà biểu hiện cụ thể là hướng đến việc tạo ra người làm công, chứ không phải người có khả năng làm chủ. 

Nay thời 4.0 đang tới. Xu hướng đào tạo con người công cụ, con người học xong chỉ nhăm nhắm đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội, đang trở nên lỗi thời. Lý do đơn giản là không ai biết xu hướng lao động trong 10-20 năm nữa là gì. Vì thế giáo dục hướng cá nhân hóa, giáo dục để tạo ra những con người tự do, những người có khả năng làm chủ - tạo ra nhu cầu, chứ không phải chỉ nhăm nhắm làm công - đáp ứng nhu cầu. Xu hướng cá nhân hóa giáo dục này đã bắt đầu xuất hiện và đang phát triển mạnh mẽ ở một số nước phát triển. 

Ngay như tỷ phú công nghệ lừng danh Elon Musk cũng phải lập một trường riêng để dạy cho các con mình, chứ không tin vào nền giáo dục được đánh giá là tiên tiến của Mỹ. 

Nhưng homeschooling rất gian nan, tốn kém và đòi hỏi lòng dũng cảm. Không phải cha mẹ nào cũng có điều kiện để chọn homeschooling cho con mình. Và không phải trẻ nào cũng phù hợp với hình thức giáo dục này. Vậy nên, ở đây cũng thế, homeschooling chỉ dành cho số ít. Số ít đặc biệt. Số ít cá biệt. Số ít dám lựa chọn. 

Và dù chỉ dành cho số ít, homeschooling vẫn cần được thừa nhận. 

Lý do ư? Chúng ta được quyền khác. 
---

Khai giảng: TÔI LÀ AI? Hà Nội: 20-21/5

GiapCoach
Khi bạn không biết học để làm gì thì học trường nào mà chẳng được!

Khi bạn không biết kết hôn để làm gì thì lấy ai mà chẳng xong!

Khi bạn không biết sống để làm gì thì sống thế nào cũng bế tắc như nhau!

Trên hành trình của đời mình, nếu bạn không trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” thì bạn đang giống như người lữ hành vừa không biết đích đến, lại vừa không biết được vị trí hiện thời của mình.

Khi đó, bạn sẽ vô cùng bối rối và mệt mỏi. Bạn sẽ thấy cuộc sống thật chán nản và vô nghĩa. Bạn sẽ đi qua cuộc sống ngày-qua-ngày-lặp-đi-lặp-lại-mà-không-biết-để-làm-gì.

KHI ĐÓ, MỌI CỐ GẮNG CỦA BẠN ĐỀU TRỞ NÊN VÔ NGHĨA!

Chỉ một số ít người là thức tỉnh, trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?”, từ đó tìm ra ý nghĩa cuộc sống và sống một cuộc đời ý nghĩa.

Khóa học này sẽ giúp bạn tìm ra câu trả lời cho câu hỏi "Tôi là ai?" để giúp bạn tỉnh thức và bắt đầu sống một cuộc đời đáng sống.

Bạn có muốn trả lời câu hỏi "Tôi là ai?" đó. Nếu có, hãy đăng ký và đồng hành cùng chúng tôi.


Thông tin chi tiết, xem tại: TÔI LÀ AI?