Chủ Nhật, ngày 31 tháng 7 năm 2016

Dạy và học tiếng Anh bị lỗi ở đâu?: Cần loại bỏ định kiến

Giờ học tiếng Anh tại một trường THCS ở TP.HCM /// Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Sau kết quả thi THPT quốc gia 2 năm vừa qua, việc thay đổi cách dạy và học tiếng Anh một cách căn cơ là điều cần phải làm ngay.
Tăng thời lượng lên 6 - 12 tiết/tuần
Theo tiến sĩ Nguyễn Quốc Toàn, Phó giám đốc Ernst & Young VN, chúng ta cần một “cuộc cách mạng” về dạy và học tiếng Anh. Một cuộc cách mạng về suy nghĩ, cách tiếp cận cũng như loại bỏ những định kiến.
Nên bắt đầu bằng một thay đổi nhỏ nhưng chủ chốt dẫn đến những phản ứng dây chuyền lớn. “Tôi xin đề nghị đừng coi việc học tiếng Anh là học ngoại ngữ nữa. Hãy biến việc dạy tiếng Anh trở thành một việc cấp thiết, có tính sống còn như dạy tiếng mẹ đẻ ở VN. Cả nhiệm kỳ của một Bộ trưởng Bộ GD-ĐT chỉ cần dành để xóa “nạn mù chữ” tiếng Anh là đủ”, ông Toàn nhấn mạnh. Theo ông Toàn, chỉ cần một thay đổi nhỏ là dạy tiếng Anh ngay từ lớp 1, tăng 6 - 12 tiết một tuần. “Số lượng tăng sẽ tạo ra động lực chọn những giáo trình tốt và hiệu quả hơn. Giáo viên và nhà trường sẽ biết cách dạy thế nào, triển khai ra sao khi số giờ dạy tăng lên gấp ba lần. Cha mẹ học sinh cũng sẽ tiết kiệm hàng nghìn tỉ đồng gửi con đi học tiếng Anh ở ngoài và đưa đón con đi học thêm”, ông Toàn phân tích.
Ông Nguyễn Thế Bảo, Chủ tịch HĐQT Trường TH-THCS-THPT Việt Mỹ (VASS), cho biết: “Hiện nay giáo viên dạy tiếng Anh và chương trình không đạt chuẩn. Chương trình quá nặng nề về ngữ pháp và vẫn duy trì cách dạy cổ điển. Thời lượng tiếp cận tiếng Anh cũng quá ít thì dễ dẫn đến thất bại”, ông Bảo nói.
Người thầy sử dụng được tiếng Anh
Tiến sĩ Giáp Văn Dương, người xây dựng trường học trực tuyến GiapSchool, đưa ra 4 nguyên nhân giải thích hiện tượng kết quả điểm thi tiếng Anh thấp. Đó là do thầy, do trò, do nội dung chương trình, do phương pháp giảng dạy. Trong đó, ông Dương cho rằng nguyên nhân quan trọng là ở khâu giáo viên chưa đạt chuẩn, nội dung quá khô cứng và xa rời thực tế, học sinh học bằng sách giáo khoa phổ thông không sử dụng được, dần dà sẽ trôi đi mất. Phương pháp giảng dạy ở phổ thông cũng không phù hợp.
“Để thay đổi, mấu chốt là ở người thầy. Phải tìm ra phương pháp nào đó đào tạo người thầy “sử dụng” được tiếng Anh, không phải người trung gian truyền tải ngữ pháp và từ vựng tiếng Anh cho học trò. Qua đó mới dạy được học sinh cách sử dụng tiếng Anh. Họ sẽ tự tìm nội dung chương trình tốt, thay đổi cách dạy theo cách tốt nhất cho học trò của mình. Đề án 2020 cũng quan tâm đến việc này nhưng đào tạo người thầy theo cách cũ, vẫn bám sát nhiều điều cũ. Hiện nay đề án đã đi được 2/3 chặng đường mà kết quả chưa thay đổi được bao nhiêu. Tôi e ngại rằng đề án này sẽ bị thất bại”, ông Dương nói.
Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, Hiệp hội Các trường ĐH, CĐ, cho rằng nếu thay đổi cùng lúc nhiều thứ thì hệ thống sẽ không làm nổi. Cốt lõi là tạo nên sự hứng thú học tiếng Anh của học sinh. Muốn như thế, cốt lõi vẫn là tự do cho người thầy, không quản lý theo kiểu quá hành chính thì chính người thầy sẽ biết làm gì cho học sinh thú vị.
Đăng Nguyên


Kỹ năng đọc kém
Hiện nay, học sinh học ngoại ngữ, chủ yếu là tiếng Anh, không chỉ học trong nhà trường mà còn theo học ở các trung tâm ngoại ngữ. Ở đó chương trình học hướng đến sự phát triển 4 kỹ năng, chú trọng giao tiếp, thế nhưng đề thi lại không thể kiểm tra được trình độ nghe nói của thí sinh. Ngoài ra, hầu hết học sinh bây giờ rất yếu từ vựng nên khả năng đọc kém.
Cao Huy Thảo (Nguyên hiệu trưởng một trường THPT ở TP.HCM)
Đề thi chưa kiểm tra đủ 4 kỹ năng
Đề thi năm nay có sự phân hóa cao, 2 bài đọc hiểu (chiếm 30 câu) và phần bài luận, chỉ những thí sinh sử dụng điểm thi vào ĐH mới đầu tư để trả lời, còn lại chủ yếu làm “lụi” hoặc bỏ trống. Xu thế học ngoại ngữ trong nhà trường cũng cố gắng hướng học sinh đến việc phát triển 4 kỹ năng, nhưng đề thi chỉ dừng lại ở việc lồng ghép một vài tình huống giao tiếp hằng ngày chứ không thể kiểm tra được kỹ năng nghe và nói.
Lê Thanh Tùng (Tổ trưởng tổ tiếng AnhTrường THPT Lương Thế Vinh, Q.1, TP.HCM)
Bích Thanh (ghi)
Nguồn: báo Thanh Niên, ngày 28/7/2016

Thứ Ba, ngày 24 tháng 5 năm 2016

Gặp gỡ & Đối thoại: Đồng hành cùng con

Tại Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy 3A Ngô Quyền, Q. Hoàn Kiếm, vào lúc 9h thứ Bảy ngày 7/5/2016 diễn ra buổi Cà phê Gặp gỡ & Đối thoại:

Chủ đề: “ĐỒNG HÀNH CÙNG CON” với TS Giáp Văn Dương
Chủ trì: Ca sĩ Mỹ Linh

--
Tóm tắt:

Giáo dục trong gia đình từ lâu đã chiếm vai trò quan trọng, có tính cách quyết định đến sự trưởng thành và thành công của trẻ sau này. Tuy nhiên, giáo dục trong gia đình đang bị xao nhãng, một phần vì công việc bận rộn của các bậc phụ huynh, một phần vì thiếu hụt các kiến thức về giáo dục trong gia đình. Điều này dẫn đến nhiều hệ quả không mong muốn, chẳng hạn: Đẩy toàn bộ trách nhiệm giáo dục con trẻ cho nhà trường; Dạy con theo các thông tin cóp nhặt mà không hiểu rõ bản chất của vấn đề; Dạy con theo lối áp đặt ý kiến chủ quan của mình; Dạy con theo quán tính văn hóa mà không hề kiểm chứng, v.v.

Vậy làm sao để khắc phục những nhược điểm này? Làm sao để dạy con đúng cách? Buổi trò chuyện về giáo dục cùng TS. Giáp Văn Dương trong chuỗi Café Gặp gỡ & Đối thoại của Café thứ 7 cùng TS. Giáp Văn Dương sẽ góp phần trả lời những câu hỏi này.

Buổi cà phê đặc biệt có sự tham gia của danh ca Mỹ Linh (trong vai trò chủ tọa), một nghệ sĩ hàng đầu trong lĩnh vực ca nhạc đồng thời cùng là một người mẹ có rất nhiều kinh nghiệm trong việc vượt khó để giáo dục con cái thành công.

Thứ Hai, ngày 29 tháng 2 năm 2016

Lãnh đạo có nghĩa là gì?

27/02/2016 12:18:16 CH

Giáp Văn Dương
(TBKTSG) - Chọn ra dàn lãnh đạo. Việc này tưởng chừng quá đơn giản, ai chẳng biết vì báo chí truyền thông cập nhật mỗi giờ, cho đến khi có một câu hỏi... cắc cớ xuất hiện: Lãnh đạo có nghĩa là gì?
Rõ ràng là nếu không hiểu được lãnh đạo có nghĩa là gì, thì làm sao có thể chọn ra nhà lãnh đạo đúng?
Lưu ý rằng, câu hỏi ở đây là “Lãnh đạo có nghĩa là gì?”, chứ không phải “Lãnh đạo là gì?”. Nếu hỏi “Lãnh đạo là gì?”, chúng ta sẽ đi vào bế tắc, vì sẽ sa vào định nghĩa, mà định nghĩa thì thường trừu tượng và phiến diện.
Chính việc sa vào câu hỏi “Lãnh đạo là gì?” một cách phổ biến đã đẩy phần lớn chúng ta đi đến một quan niệm cũng phổ biến không kém: Lãnh đạo là một vị trí có quyền lực. Vị trí và quyền lực thường gắn liền với nhà lãnh đạo, nhưng về bản chất nó không đồng nhất với sự lãnh đạo.
Vậy nên, thay vì hỏi “Lãnh đạo là gì?”, ở đây sẽ chọn một cách khác hữu dụng hơn: Lãnh đạo có nghĩa là gì? Cách đặt câu hỏi này sẽ giúp chúng ta thoát khỏi cái bẫy định nghĩa trừu tượng và phiến diện, để đi thẳng vào những nội dung thực chất và cụ thể của sự lãnh đạo, và những việc mà nhà lãnh đạo phải làm.
Vậy lãnh đạo có nghĩa là gì? Để trả lời câu hỏi này, trước hết cần trả lời một câu hỏi trước đó: Một người đến vị trí lãnh đạo bằng cách nào?, và một câu hỏi sau đó: Người đó, sau khi đã đạt vị trí lãnh đạo, sẽ làm gì với tư cách nhà lãnh đạo?
Trong câu hỏi thứ nhất, nhìn qua lịch sử ta sẽ thấy một người có thể đến vị trí lãnh đạo bằng rất nhiều cách khác nhau, nhưng tựu chung có thể chia thành hai cách phổ biến sau: Đến được vị trí lãnh đạo theo kiểu cha truyền con nối hoặc thông qua sắp xếp hay chiếm đoạt; hoặc được bầu chọn làm lãnh đạo thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch.
Sự khác biệt giữa hai cách này là ở cách thức mà quyền lực, và do đó cả sự lãnh đạo nói chung, đến với người đó. Nếu ở cách thứ nhất, quyền lực và sự lãnh đạo đến với một người thông qua sự kế truyền, sắp xếp hay chiếm đoạt thì trong cách thứ hai, quyền lực và do đó cả sự lãnh đạo, đến với người đó thông qua sự ban trao từ phía người dân. Trong trường hợp thứ nhất, danh xưng thích hợp cho người đó sẽ là nhà cầm quyền, còn trong trường hợp thứ hai, danh xưng đúng đắn sẽ là nhà lãnh đạo. Đó là điều khác biệt cơ bản giữa nhà lãnh đạo thực sự và nhà cầm quyền mang danh lãnh đạo.
Vậy nên, với một nhà lãnh đạo thì quyền lực và bản thân sự lãnh đạo bao giờ cũng là một sự ban trao. Người dân ban trao cho người đó sự lãnh đạo, và do đó cả quyền lực đi kèm, thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch. Và vì ban trao nên bao giờ cũng có thời hạn, và khi nào nhận ra người đó không còn xứng đáng, hoặc nhận ra sự nhầm lẫn của mình, người dân sẽ lấy lại sự ban trao đó. Cơ chế kiểm soát quyền lực và văn hóa từ chức xuất hiện chính từ lý do này.
Giờ sang câu hỏi thứ hai: Một người sau khi được ban trao sự lãnh đạo thì anh ta sẽ làm gì?
Thông thường, ta sẽ hình dung rằng anh ta sẽ quản lý và vận hành tổ chức, hoặc đất nước của mình với tư cách nhà lãnh đạo. Nhưng nếu chỉ như vậy thì một nhà quản lý sẽ phù hợp hơn, cần gì đến một nhà lãnh đạo?
Một nhà lãnh đạo phải được sinh ra sẽ để làm những điều khác nhà quản lý. Chỉ khi làm được những việc khác hơn việc quản lý và vận hành hàng ngày, anh ta mới xứng đáng là nhà lãnh đạo.
Nếu nhà quản lý sẽ chủ yếu sống ở hiện tại để kiểm soát và vận hành các chương trình, kế hoạch, nhà lãnh đạo sẽ chủ yếu sống ở tương lai, để thiết kế ra những chương trình và kế hoạch đó như là một phần của một tương lai chung, một tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người. Nhà lãnh đạo cũng phải thuyết phục mọi người tin vào tương lai chung đó, để cùng nhau tham gia hiện thực hóa nó. Nhà lãnh đạo vì thế sẽ là hiện thân của tương lai của tổ chức hay đất nước mà anh ta lãnh đạo.
Chính vì lẽ đó, nhà lãnh đạo sẽ đòi hỏi phải có những phẩm chất khác thường so với nhà quản lý, lại càng khác so với phẩm chất của nhà cầm quyền. Trước hết, nhà lãnh đạo đòi hỏi phải có tầm nhìn xa và rộng để thấy được tương lai, từ đó thiết kế ra một tương lai mới tốt hơn cho tất cả mọi người. Sau đó, nhà lãnh đạo phải thuyết phục mọi người tin vào tương lai chung đó và cùng nhau góp sức hiện thực hóa tương lai đó. Mà để làm được điều đó, nhà lãnh đạo phải có được sự tin tưởng của những người được anh ta lãnh đạo. Sự tin tưởng đó sẽ căn cứ không chỉ trên viễn cảnh mà nhà lãnh đạo vẽ ra, mà còn được tích tụ từ vô số các tương tác trong quá khứ, mà ở đó đạo đức và sự khả tín của nhà lãnh đạo đóng vai trò quyết định. Vì thế, tính cách và đạo đức của nhà lãnh đạo chứ không phải kiến thức chuyên môn thường đóng vai trò quyết định trong việc có được sự tin tưởng này.
Để hiện thực hóa được tương lai mà nhà lãnh đạo thiết kế ra, nhà lãnh đạo phải huy động nguồn lực và sự hợp tác của tất cả người dân trong một thời gian dài. Để làm được điều này, nhà lãnh đạo bị đòi hỏi phải có thêm ít nhất là ba phẩm chất tối quan trọng: chính trực vẹn toàn trong lời nói và việc làm của mình để duy trì sự tin tưởng, giúp cho công việc lãnh đạo không bị đổ vỡ; bao dung hội hợp để có thể chứa chấp tất cả các cách nghĩ, cách nhìn và cách đóng góp khác nhau từ mọi phía mọi người; và một sứ mệnh lớn hơn mối quan tâm của bản thân, gia đình hay hội nhóm của mình. Nếu không có chúng thì sự lãnh đạo sẽ không bao giờ có thể thành công.
Trở lại câu hỏi đầu tiên, lãnh đạo có nghĩa là gì? Câu trả lời giờ đã rõ ràng hơn, rằng: Lãnh đạo và kèm theo nó là vị trí và quyền lực, là sự ban trao của người dân đối với người mà mình tin tưởng thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch. Lãnh đạo là một sự ban trao chứ không phải một sự sắp xếp. Công việc chính của nhà lãnh đạo là thiết kế ra một tương lai chung tốt hơn cho tất cả mọi người, thuyết phục mọi người tin tưởng và cùng nhau hiện thực hóa tương lai chung đó.
Nếu nhà lãnh đạo không làm được như vậy thì người dân đã ban trao nhầm người. Trong trường hợp này, tốt nhất là người dân có quyền và có cơ chế để rút lại sự ban trao này để tìm người xứng đáng. Nếu không, họ sẽ chỉ có một nhà cầm quyền thay vì một nhà lãnh đạo.

Con người tự do là đích đến của giáo dục

10/02/2016, 14:35 (GMT+7)
Đây là quan điểm của TS Giáp Văn Dương khi ông đề cập đến việc đất nước ta đang thiếu đi một triết lý giáo dục.
Con người tự do là đích đến của giáo dục
TS Giáp Văn Dương (trái) cho rằng, khi đã chọn đào tạo con người công cụ làm triết lý thì không có cách nào làm cho giáo dục tốt lên được
Quan điểm này được TS Giáp Văn Dương đưa ra khi ông có điều kiện trải nghiệm ở một số môi trường giáo dục tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới như Anh, Singapore, Hàn Quốc, Áo, Nhật Bản… 

Thi giỏi nhưng làm việc yếu 

Bằng sự trải nghiệm của mình, ông nhận định như thế nào về điểm khác biệt giữa nền giáo dục ở Việt Nam và các nước mà ông có cơ hội tìm hiểu, đặc biệt là chuyện thi cử?
Tôi đã trải nghiệm một số nền giáo dục khác nhau. Á, Âu đều có. Rồi cũng nhận ra rằng, Á vẫn là Á mà Âu vẫn là Âu, khác nhau một trời một vực. Chẳng hạn, Hàn Quốc vẫn còn nặng nề về thi cử. Gần như 100% học sinh đều tham gia luyện thi tối ngày để vào trường tốt.
Đến mùa thi đại học, các bà các mẹ lũ lượt vào chùa cầu may cho con cái đỗ đạt. Về mức độ thì còn nặng nề hơn cả ở Việt Nam, vì ở một nền kinh tế cạnh tranh như thế, và do truyền thống Nho giáo còn ảnh hưởng mạnh mẽ, không học đại học đồng nghĩa với một tương lai ảm đảm.
Singapore cũng vậy. Nhưng Singapore nói tiếng Anh nên thoáng hơn trong việc tiếp thu các tư tưởng và phương pháp giáo dục của Tây, đề cao tính thực dụng và sáng tạo. Truyền thống học để thi của Nho giáo vẫn ảnh hưởng mạnh lên hệ thống giáo dục Singapore, vì cộng đồng người Hoa vẫn chiếm đa số.  
Thi cử là một phương tiện để đánh giá hiệu quả giáo dục, đã trở thành mục tiêu trong các nền giáo dục châu Á. Nhưng ở bên kia bán cầu thì rất khác. Như Áo hoặc Anh, nơi tôi học và làm việc, thì học hành thi cử rất nhàn.
Giáo dục có cả một truyền thống tư tưởng và triết lý bắt nguồn từ triết học, lại được sự hậu thuẫn của khoa học, và chạy trên nền tảng xã hội dân chủ, nên rất khoa học và hiệu quả. Đó thực sự là một phương tiện để phát triển con người, chứ không phải là đày đọa con người. Thi cử trong các nền giáo dục này chỉ là một trong nhiều phương tiện để đánh giá chất lượng dạy và học, chứ không phải là mục tiêu của giáo dục.
Nói cách khác, họ hiểu rất rõ học để phát triển con người. Vậy phải chăng thi chỉ là phương tiện đánh giá học và dạy có tốt không thôi, thưa ông?
Thi cử là công cụ để đánh giá chất lượng của việc dạy và học. Ở đây phải nói rõ thêm một chi tiết nhỏ nhưng quan trọng mà chúng ta hay nhầm lẫn: Thi cử là công cụ để đánh giá chất lượng dạy và học theo những nội dung và mục tiêu được soạn sẵn, chứ thi cử không phải là dùng để đánh giá con người. Những gì được học chỉ là một phần nhỏ, nhưng xu hướng hiện nay đang sử dụng thi cử như là công cụ duy nhất để đánh giá con người. Đó là điều vừa vô lý, vừa đáng lo ngại.  
Nhìn vào nội dung các kỳ thi là những người làm giáo dục dày dạn có thể nhìn thấy được hình dáng của những thế hệ sắp tới, hình dung được phần nào tương lai của đất nước. Thi cử nếu chỉ chú trọng vào học thuộc thì chắc chắn sẽ tạo ra một đất nước gia công, vì cả hai đều không cần sáng tạo, mà chỉ cần tuân thủ, bảo sao làm vậy. 
Nếu nói về thành tích thi cử với các loại huy chương quốc tế thì Việt Nam đã gặt hái được khá nhiều. Nhưng tìm một bằng sáng chế có ứng dụng hay một thành tích khoa học để đời thì lại quá khó. Điều đó cho thấy, cách học để thi không tạo ra người giỏi. Mà bản thân khái niệm người giỏi cũng phải xem xét lại. Quan điểm của ông về điều này?
Người giỏi hiện giờ được coi là người học giỏi, mà cụ thể hơn là thi giỏi. Nhưng người giỏi thực sự phải là người làm giỏi. Chỉ tiếc rằng những người làm giáo dục chẳng mấy khi quan tâm đến chuyện này, nên tạo ra những lớp người thi rất giỏi mà kỹ năng làm việc rất yếu. Tôi muốn nói đến sự thiếu hụt về kỹ năng mềm của sinh viên Việt Nam, nhất là kỹ năng làm việc nhóm của các em rất yếu. Mặt khác, ngoại ngữ và kỹ năng độc lập đối thoại, tự chủ để hội nhập của các em cũng còn non lắm.
Muốn gỡ nút tắc này, thì không còn cách nào khác là phải trở lại với câu hỏi cơ bản nhất: Học để làm gì?
Vậy theo ông, học để làm gì?
Học để trở thành con người tự do chứ còn để làm gì nữa (cười).
Theo UNESCO học để biết, để làm, để khẳng định bản thân và để chung sống với người khác. Nhận định này chính xác. Nhưng tôi cho rằng, học để trở thành con người tự do sẽ đi vào bản chất sâu xa nhất của giáo dục, và vì nó chạm được đến bản chất của tồn-tại-người, với tất cả tính nhân văn, quyền năng và trách nhiệm mà nó phải gánh chịu.
17-49-03_ts-gip-vn-duong-trong-mot-chuong-trinh-truyen-hinh-cung-voi-dbqh-duong-trung-quoc-v-nh-bo-t-bich-lon
TS Giáp Văn Dương trong một chương trình truyền hình cùng với ĐBQH Dương Trung Quốc và nhà báo Tạ Bích Loan
Tôi cho rằng, khi làm giáo dục thì phải trả lời bằng được ba câu hỏi: Học để làm gì, Học cái gì và Học thế nào? Trong ba câu hỏi này thì theo tôi, “Học để làm gì?” là quan trọng nhất. Trả lời được câu hỏi này, hoặc ở mức thấp hơn là định hướng được câu trả lời cho câu hỏi này, thì hai câu hỏi kia sẽ tự động được trả lời. Vì thế, học để làm gì chính là con đường ngắn nhất để đi thẳng vào triết lý giáo dục của hệ thống, và sau đó là của mỗi cá nhân.
Ở Việt Nam, tôi đã có khảo sát với số lượng hàng trăm học sinh và sinh viên, trong đó có nhiều em sắp ra trường, vậy mà khi hỏi học để làm gì, các em vẫn không biết trả lời ra sao. Đa số các em thậm chí còn chưa bao giờ đặt ra câu hỏi này cho mình.
Hầu hết chỉ học như một sự lập trình sẵn, đến ngày đến tháng thì đi học, học hết lớp nhỏ thì lên lớp lớn, hết phổ thông thì thi đại học, mà không hề bận tâm đến mục đích của những việc đó. Trong lúc vô tâm đó thì các kỳ thi xuất hiện đều đặn và khẳng định tầm quan trọng của mình trong việc phán xét. Thế là có một mục tiêu: Học để thi. Thi gì học nấy. Không thi không học. Thi xong thì quên luôn!
Không tin bạn cứ thử trò chuyện với các sinh viên, những người sắp bước vào đời thì sẽ thấy ngay: Phần lớn là chưa thi thì chưa học. Trong học kỳ thì léng phéng, gà gật chơi bời. Chỉ đến khi thi thì mới tìm mọi cách để nhồi nhét chống đối cho xong. Dần dần ăn vào máu của người Việt rồi trở thành bản tính của số đông.
Ở những nền giáo dục tiên tiến thì giáo dục đào tạo con người nào là rất rõ ràng. Nhà nước hoạch định một chiến lược giáo dục rất cụ thể cho việc đào tạo con người mà họ hướng tới, và giải thích rõ ràng và thuyết phục cho toàn dân là tại sao lại như vậy. Trong khi đó, ở Việt Nam chưa bao giờ một phát biểu tường minh về con người mà chúng ta muốn hướng tới, tức chưa bao giờ phát biểu tường minh về triết lý giáo dục của hệ thống mà chúng ta đang vận hành, dẫn đến bế tắc về triết lý giáo dục.
Vì chưa rõ, hay phát biểu chưa được tường minh về triết lý giáo dục cho nên thiết kế nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy bị rối, không có linh hồn rõ ràng, và quan trọng hơn là không thuyết phục được toàn dân tin theo nên phải áp đặt từ trên xuống. Chừng nào chưa giải quyết được câu chuyện triết lý giáo dục này thì chừng đó giáo dục còn bế tắc.   
Cần con người công cụ hay con người sáng tạo?
Ông có hình dung được triết lý giáo dục của Việt Nam không?
Đó là đào tạo con người công cụ. Chúng ta đào tạo con người chỉ để phục vụ một kế hoạch đã định sẵn, một thiết kế định sẵn, một ý chí định sẵn, mà không đào tạo ra những con người biết vượt qua những cái định sẵn đó để tạo ra sự phát triển. Đây là cách giáo dục phục vụ cho nền kinh tế quan liêu bao cấp tập trung.
Trong thời chiến và trong thời bao cấp, nền giáo dục này có thể phát huy được ít nhiều hiệu quả với tư cách là phục vụ trực tiếp những mục tiêu ngắn hạn. Nhưng về dài hạn thì cũng giống như nền kinh tế quan liêu bao cấp tập trung, nó không có sức sống vì không trân trọng con người với tư cách là con người tự do và không phát huy được mọi khả năng của con người.
Vì lẽ đó, về đại thể thì giáo dục vẫn còn dẫm chân tại chỗ của những năm 80 thế kỷ trước, trong khi kinh tế đã từ bỏ mô hình quan liêu bao cấp tập trung để chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần.  
Chính triết lý đào tạo con người công cụ này, dù được thừa nhận chính thức hay không, đã chi phối toàn bộ nội dung chương trình và cách thức làm giáo dục ở Việt Nam. Chỉ khi nào vượt qua, bằng cách tạo ra một triết lý mới, nhân văn và tiến bộ, và phát biểu triết lý đó một cách tường minh cho toàn dân biết, và sử dụng nó như kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục thì khi đó giáo dục mới có bước phát triển mới.
Nói như vậy thì Việt Nam cần một triết lý giáo dục như thế nào để thực sự nhân văn và tiến bộ?
Chỉ có con người tự do mới đủ năng động và sáng tạo để làm chủ thực tế và kiến tạo phát triển. Vì lẽ đó, con người tự do là đích đến của giáo dục.
Lý do ư? Thì như tôi đã nói, triết lý đó sáng rõ và đủ lớn để bao trùm và định hướng mọi hoạt động của giáo dục, và đủ sức để thuyết phục toàn dân hưởng ứng, vì đâu có ai là người không muốn có tự do, ai là người thích làm công cụ cho người khác? Và quan trọng hơn, nó rất nhân văn, nó làm cho con người ta trở thành người đúng nghĩa, cho phép người ta phát huy hết mọi khả năng của mình theo cách sáng tạo nhất, để từ đó sống đời sống có ý nghĩa và trách nhiệm.
Chỉ với những con người như thế, chúng ta mới phát triển được, trong một thế giới nhiều cạnh tranh và biến động.
TS Giáp Văn Dương sinh năm 1976 (quê ở Lạng Giang, Bắc Giang), tốt nghiệp kỹ sư ngành Hoá dầu đại học Bách khoa Hà Nội năm 1999, thạc sĩ ngành Công nghệ hoá học Đại học quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc) năm 2002, tiến sĩ ngành Vật lý kỹ thuật Đại học Công nghệ Vienna (Áo) năm 2006. Ông từng làm việc tại Đại học Liverpool (Anh) và Đại học Quốc gia Singapore (NUS).
Trong một thế giới thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là khi đã hội nhập toàn cầu, thì cái gì không thay đổi sẽ trở thành lạc hậu và bị đào thải. Nếu không sáng tạo để làm chủ, anh sẽ trở thành kẻ làm thuê cho người khác. Sự thật là chúng ta đang làm thuê cho người khác ngay trên đất nước mình. Vì mình được đào tạo để trở thành công cụ chứ không phải là người làm chủ. Sự thật hiển nhiên đó cần phải được thừa nhận để đưa vào cải cách giáo dục.
Trái với việc đào tạo con người công cụ làm cho người ta mệt mỏi và suy thoái, một khi triết lý đào tạo con người tự do được thừa nhận và triển khai rộng rãi, nó sẽ tạo ra sức sống mới cho toàn hệ thống giáo dục, và sau đó là toàn xã hội. Nó nói rõ cho mọi người biết, với tư cách là con người tự do thì cuộc đời của anh diễn ra thế nào là lựa chọn của anh, trong tự do và suy xét, chứ không phải là sự áp đặt từ trên xuống.
Vì thế anh không có lý do gì để oán trách và đổ lỗi. Trở thành con người tự do, anh là chủ nhân của số phận mình, của đất nước mình. Anh không còn lý do gì để bám víu, vì thế anh trưởng thành thực sự, và tìm được ý nghĩa thực sự của đời sống. 

Mở đường cho tự do học thuật 

Qua nghiên cứu chương trình đào tạo của Việt Nam, ông nhận định như thế nào về nội dung chương trình của ta hiện nay?
Chương trình giáo dục hiện thời của Việt Nam đang được xây dựng trên cách tiếp cận lấy “học cái gì?” là chủ đạo. Vì thế hiện chỉ có một bộ sách giáo khoa được dùng thống nhất trong cả nước, chương trình và phương pháp được kiểm soát chặt chẽ từ trên xuống. Đây là kết quả hiển nhiên của triết lý đào tạo con người công cụ.
17-49-03_ts-gip-vn-duong-cho-rng-khi-d-chon-do-to-con-nguoi-cong-cu-lm-triet-ly-thi-khong-co-cch-no-lm-cho-gio-duc-tot-len-duoc
Theo TS Giáp Văn Dương, không thể đầu tư cho hạ tầng cứng là cầu cống, đường sá mà lại bỏ qua hạ tầng tri thức và hạ tầng con người trong khi bắt họ phải tự chủ
Nhưng điều này sẽ dẫn đến một kết quả hiển nhiên khác, là con người do hệ thống giáo dục đào tạo ra chỉ biết “học thuộc”, tức bảo gì làm nấy, nên chỉ có thể làm thuê chứ ít khả năng sáng tạo để làm chủ. Nếu giáo dục không thay đổi thì việc Việt Nam trở thành nền kinh tế gia công và bị kẹt không vượt lên được có sự đóng góp rất lớn của giáo dục.
Giờ thì giáo dục chỉ còn học và thi. Học ngày học đêm, chỉ để thi. Thi xong là quên hết. Thầy lao đầu vào dạy, trò lao đầu vào học, mà không cần biết dạy để làm gì và học để làm gì. Tất nhiên phải trừ những người dạy để kiếm cơm ra (cười).
Về nội dung chương trình đào tạo bậc đại học của mình thì hiện nay quá lạc hậu. Cứ thử làm một khảo sát bỏ túi mà xem, phần lớn giáo trình của các ngành công nghệ vẫn là giáo trình được biên soạn bởi những thầy cô đi học ở Liên Xô (cũ) về. Thậm chí nếu các thầy cô đó đã nghỉ hưu thì giáo trình đó vẫn sử dụng, vì dùng thế quen rồi, và vì các thầy cô tuy nghỉ nhưng vẫn còn ảnh hưởng…
Kết quả là về mặt kiến thức, sinh viên của chúng ta đi chậm hơn so với thế giới hàng chục năm. Chưa kể, trong mấy chục năm qua, chưa có một cuộc cải cách giáo dục nào ở bậc đại học. Tất cả các cuộc cải cách giáo dục đều dừng ở bậc phổ thông. Duy nhất chỉ có một lần thành lập trường đại học đại cương giữa những năm 1990, nhưng đã thất bại. Còn việc dạy theo tín chỉ đã triển khai trên diện rộng, nhưng về bản chất cũng không khác gì học theo niên chế ngày xưa, vì có quá ít nội dung để sinh viên lựa chọn.
Giáo dục phổ thông 12 lớp, một lớp chỉ có hơn chục đầu sách, kiến thức truyền thống, nên dễ làm. Vì thế nên cải cách giáo dục chỉ tập trung ở bậc phổ thông này. Còn giáo dục đại học quá rộng lớn, lại thay đổi liên tục vì phải cập nhật kiến thức để cho sinh viên ra trường đi làm được.
Cùng một môn nhưng năm nay thầy dạy bằng giáo trình này, năm sau thầy lại dạy bằng giáo trình khác cập nhật hơn, vì thế khó làm, nên cải cách giáo dục bậc đại học bị bỏ qua trong suốt mấy chục năm qua. Không làm được, nhưng cơ quan quản lý lại muốn kiểm soát về nội dung chương trình, không ủng hộ tự do học thuật nên không mở đường cho việc sử dụng giáo trình của nước ngoài, nên chương trình đại học về cơ bản là giậm chân tại chỗ.
Từ đó đặt ra những điều gì đáng lo ngại cho nền giáo dục nước nhà, thưa ông?
Điều tôi lo ngại nhất là chúng ta không có tự do học thuật ở bậc đại học, và tự do học đường ở bậc phổ thông. Đã không có tự do học thuật và tự do học đường thì tất cả sẽ chỉ là công cụ. Trò là công cụ đã đành, nhưng thầy cũng là công cụ, hiệu trưởng cũng vậy…
Sau đó là nội dung chương trình bậc đại học của phần lớn các ngành quá mức lạc hậu. Nhiều ngành vẫn sử dụng giáo trình từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trước, tức của thế hệ các thầy cô từ ngày đó biên soạn hoặc biên dịch cóp nhặt. Vậy thì làm sao cử nhân, kỹ sư của ta có chất lượng, có thể tạo ra một nền kinh tế cạnh tranh được?
Nhưng việc sử dụng giáo trình của nước ngoài không được khuyến khích, vì xung đột lợi ích với cả nhà quản lý và bản thân giảng viên, khi giáo trình cóp nhặt do mình viết ra vẫn được chấp nhận và lại được tính điểm để phong học hàm, còn sử dụng giáo trình của nước ngoài thì vừa mệt lại vừa “nguy hiểm”. Tình trạng này có lẽ còn kéo dài, nếu không có sự thay đổi rốt ráo từ phía Bộ GD-ĐT.
Và cuối cùng, nhưng lại đáng ngại nhất, là sự giả dối thể hiện dưới nhiều hình thức đã trở thành phổ biến trong mọi nhà trường, và rộng hơn là cả xã hội. Bệnh thành tích chỉ là một phần nhỏ của sự giả dối này mà đã tàn phá ghê như vậy, thì kết hợp với các hình thức khác sức tàn phá còn lớn đến mức nào? Lớn đến mức không ai là con người thật, tất cả thành hàng giả hết. Những người thật còn sót lại, nếu có sẽ bị dồn vào chân tường, và im lặng!
Nếu bỏ áp đặt để mở đường cho tự do học thuật, tự chủ đại học, ông có nghĩ rằng, đây sẽ là luồng khí mới cho bước khởi đầu phát triển giáo dục nước nhà?
Đây là con đường duy nhất để phát triển giáo dục. Không còn cách nào khác. Muốn tạo ra những con người tự do đầy sức sống, đầy sức sáng tạo thì phải có tự do học thuật và tự chủ đại học. Nhưng phải lưu ý, tự chủ đại học không phải là các trường tự lo tài chính, nhà nước không có trách nhiệm gì như cách hiểu hiện giờ.
Tự chủ đại học phải được hiểu là tự chủ về nhân sự, tự chủ về nội dung chương trình. Coi tự chủ đại học là tự chủ tài chính thì nguy hiểm và vô trách nhiệm với giáo dục. Tất nhiên là đang nói với các trường công. Còn trường tư thì là câu chuyện khác, đó là câu chuyện của thị trường.  
Trong góc nhìn này, Nhà nước phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Đó chính là đầu tư cho loại hạ tầng quan trọng nhất, hạ tầng tri thức và hạ tầng con người. Cho nên, không thể đầu tư cho hạ tầng cứng là cầu cống, đường sá mà lại bỏ qua hạ tầng tri thức và hạ tầng con người trong khi bắt họ phải tự chủ.
Trân trọng cảm ơn ông!
VĂN HÙNG - KIỀU KHẢI



Thứ Bảy, ngày 30 tháng 1 năm 2016

Lãnh đạo và cầm quyền

Giáp Văn Dương 

Trong những năm học tập và làm việc ở nước ngoài, một trong những điều tôi luôn lưu ý tìm hiểu là: Vì sao họ lại phát triển, còn mình thì không? 

Tôi nhận ra rằng, thoạt nhìn thì câu trả lời có thể là do thể chế, hoặc do văn hóa, hoặc do những đặc thù về vị trí địa lý. Nhưng khi suy nghĩ kỹ hơn thì thấy rằng, phía sau tất cả các yếu tố này, bao giờ cũng thấp thoáng hình bóng của nhà lãnh đạo xuất sắc. Có thể nhà lãnh đạo chính là người tạo ra các yếu tố này, hoặc chính là người đã khai thác hiệu quả các yếu tố này, để dẫn dắt sự phát triển của dân tộc họ. Ngay cả khi không có một nhà lãnh đạo xuất sắc hiện diện ở ngay trong hiện tại, thì thể chế ưu việt và nền văn hóa tích cực do những nhà lãnh đạo tiền bối của họ kiến tạo ra vẫn đang đóng vai trò dẫn dắt. Khi đó, chính những nhà lãnh đạo quá cố đó, vẫn đang tiếp tục lãnh đạo gián tiếp đất nước của họ thông qua các di sản về thể chế và văn hóa mà họ đã gây dựng. 

Như vậy để thấy, lãnh đạo chính là yếu tố mang tính quyết định đến sự phát triển của một tổ chức, và rộng hơn là của cả một dân tộc. Đặc biệt là trong các thời khắc khó khăn thì vai trò của nhà lãnh đạo lại càng lớn, do phải đương đầu với những tình huống chưa từng gặp qua và đòi hỏi phải ra được những quyết định chính xác mang tính sống còn. Vì thế có thể nói, giới hạn của nhà lãnh đạo chính là giới hạn phát triển của tổ chức mà người đó lãnh đạo, và giới hạn phát triển của một dân tộc, cũng bị quy định bởi chính giới hạn của những người đang lãnh đạo dân tộc đó. Nói cách khác, lãnh đạo là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển hoặc kìm hãm đất nước. Lựa chọn lãnh đạo đất nước chính là lựa chọn vận mệnh của cả dân tộc. 

Trong một thế giới nhiều biến động, vai trò của nhà lãnh đạo lại càng nổi bật và trở nên quan trọng. Vì vai trò của nhà lãnh đạo là để chèo lái quốc gia trong những hoàn cảnh khó khăn hoặc bất định hoặc đòi hỏi sự bứt phá. Nếu không có khó khăn, không có bất định, hoặc không đòi hỏi sự bứt phá thì khi đó chỉ cần một nhà quản lý có năng lực để đảm bảo mọi việc diễn ra theo cách bình thường, chứ không cần đến một nhà lãnh đạo đích thực. Vì nhà quản lý sẽ tập trung vào việc thực hiện các kế hoạch đã đặt ra, còn nhà lãnh đạo sẽ thiết kế và hiện thực hóa một tương lai hoàn toàn mới, một sự phát triển mang tính bứt phá, hoặc một chuyển hướng mang tính chiến lược có ảnh hưởng tốt đẹp cho nhiều thế hệ kế tiếp. 

Vì quan trọng như vậy, nên lãnh đạo bao giờ cũng là một quan tâm của mọi giới trong xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở mọi nước trên thế giới. Với hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, thì chất lượng lãnh đạo lại càng quan trọng, khi phần lớn người dân Việt Nam không được trực tiếp lựa chọn lãnh đạo tối cao của mình. 

Thực tế phát triển của các quốc gia cho thấy, đất nước nào lãnh đạo anh minh thì dân tộc đó cất cánh chỉ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, có thể chứng nghiệm trong một đời người, mà Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore là những ví dụ nhãn tiền, còn dân tộc nào có lãnh đạo u mê thì dân tộc đó chìm trong nghèo hèn hàng thế kỷ, không biết khi nào mới ngóc đầu lên được, thậm chí, ngay sự tồn tại của mình cũng không chắc được đảm bảo. 

Từ trong sâu thẳm, nhà lãnh đạo bao giờ cũng mang trong mình những sứ mệnh lớn hơn bản thân, gia đình hoặc phe nhóm của mình. Đó có thể là sứ mệnh giải phóng dân tộc, hoặc tạo ra một sự phát triển vượt bậc cho dân tộc, hoặc giải phóng con người ra khỏi u mê giáo điều. Chính sứ mệnh lớn lao đó chứ không phải những kiến thức chuyên môn, hoặc bè phái cấu kết, làm lên tầm vóc của nhà lãnh đạo, và tạo ra sự phát triển cho cả dân tộc mà họ lãnh đạo. 

Chính nhà lãnh đạo đó sẽ là người thiết kế ra những tương lai mới, và thuyết phục được toàn dân tin tưởng vào tương lai đó, để sau đó huy động toàn lực để hiện thực hóa tương lai đó. Thông qua đó, nhà lãnh đạo nhận được sự tin tưởng, và bản thân sự lãnh đạo, như một sự ban trao từ phía người dân. Nếu người được bầu chọn không có khả năng thiết kế ra một tương lai như vậy, và không có khả năng thuyết phục toàn dân tin tưởng vào tương lai đó, và không thể tập hợp được đủ người tài và nguồn lực để hiện thực hóa tương lai đó, thì đó là một sự lựa chọn nhầm lẫn. Trong trường hợp đó, cùng lắm chúng ta cũng chỉ có một nhà cầm quyền, chứ không phải là một nhà lãnh đạo. 

Vậy nên, muốn phát triển, dù là một tổ chức hay một đất nước, thì điều kiện tiên quyết là tổ chức hoặc đất nước đó phải lựa chọn được một nhà lãnh đạo tối cao xuất chúng. Đó phải là một nhà lãnh đạo đích thực, chứ không phải là một nhà cầm quyền, dù về mặt hình thức, lãnh đạo và cầm quyền có nhiều nét tương đồng. 

Lưu ý rằng, sự lãnh đạo và sự tin tưởng đích thực, bản thân nó không tự xuất hiện với nhà lãnh đạo, cũng không thể giành giật được, mà chỉ có thể có được thông qua sự ban trao từ phía những người được lãnh đạo. Nếu không được ban trao, sự lãnh đạo chỉ có thể gọi tên là sự tiếm quyền. Vì thế, nhà lãnh đạo chỉ xuất hiện khi việc bầu cử được diễn ra trong dân chủ, công khai và minh bạch. 

Giờ vừa sang năm 2016, Việt Nam dự kiến sẽ sớm hội nhập sâu rộng với thế giới sau khi hiệp định TTP được ký kết. Nhu cầu phát triển bứt phá của Việt Nam cũng đang là yêu cầu bức thiết, khi chỉ còn khoảng 10 năm nữa thôi là thời kỳ dân số vàng để phát triển sẽ qua đi và bẫy thu nhập trung bình thì đang giăng ra trước mắt. Trong hoàn cảnh đó, một nhà lãnh đạo đích thực là điều mà Việt Nam cần nhất. 

Nhưng nhìn quanh thấy thời khắc chuyển giao lãnh đạo đang diễn ra rầm rộ, mà câu chuyện về lãnh đạo vẫn chưa được bàn thảo đầy đủ. Ngoài việc bàn tán ai đi ai ở, với hàm ý ai sẽ nắm quyền lực, thì câu hỏi cơ bản: lãnh đạo có nghĩa là gì, và lãnh đạo khác với cầm quyền như thế nào, lại không thấy ai bàn. 

Vậy tại sao lại không đi thẳng vào câu hỏi này: Lãnh đạo có nghĩa là gì, và lãnh đạo khác cầm quyền ở điểm nào? 

Khi đã chọn nhìn thẳng vào những câu hỏi căn cốt như thế, thì cách hiểu về lãnh đạo và lựa chọn lãnh đạo cũng sẽ khác đi. Ai đi ai ở không phải là quan trọng nhất, mà ai xứng đáng là lãnh đạo và làm sao để có được người xứng đáng đó mới là điều cốt yếu. 

Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ chỉ một điểm này. Những nội dung khác, sẽ bàn trong các dịp thuận tiện khác. 

Trước hết cần lưu ý, vì lãnh đạo thường gắn liền với quyền lực và chức vị, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị, nên khi nói đến lãnh đạo, người ta sẽ liên hệ ngay đến chức vị và quyền lực. Do đó, lãnh đạo thường bị đồng nhất với cầm quyền. Nhưng lãnh đạo và cầm quyền là khác nhau về bản chất. Nhà lãnh đạo không nhất thiết phải có chức vị và phải cầm quyền, còn người cầm quyền, dù có cả chức vị đi theo, cũng chưa chắc đã là nhà lãnh đạo. Chính sự nhầm lẫn về lãnh đạo và cầm quyền đã gây ra những cuộc đua nắm giữ quyền lực không phải cách, dẫn đến việc tạo ra các nhà cầm quyền tiếm danh lãnh đạo, thay vì các nhà lãnh đạo đích thực. Và quyền lực trong trường hợp này trở thành mục tiêu của nhà cầm quyền tiếm danh lãnh đạo, thay vì là công cụ của của nhà lãnh đạo đích thực. 

Vậy sự khác biệt đó là gì? 

Cách thức đạt được quyền lực 

Điểm khác biệt đầu tiên là khác biệt trong cách thức đến với quyền lực. Đây là điểm khác biệt mấu chốt, dẫn đến các cách hành xử khác nhau của nhà lãnh đạo đích thực và nhà cầm quyền mang danh lãnh đạo. Với nhà lãnh đạo chính trị, quyền lực và rộng hơn là sự lãnh đạo, phải được ban trao từ phía người dân trong sự tin tưởng và tự nguyện. Còn với nhà cầm quyền mang danh lãnh đạo, quyền lực này có thể đến được thông qua sắp đặt hoặc chiếm đoạt. 

Vì sự lãnh đạo là được ban trao từ phía người dân, nên khi thấy nhà lãnh đạo không đáp ứng được kỳ vọng của mình, người dân có quyền và có cơ chế để lấy lại sự ban trao này. Vì thế, lãnh đạo bao giờ cũng gắn liền với nhiệm kỳ. Còn cầm quyền thì ngược lại, quyền lực đến với nhà cầm quyền không bởi sự ban trao, mà qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt, nên về bản chất là không có nhiệm kỳ, và nhân dân bị ngăn cản để lấy lại quyền lực lẽ ra sẽ thuộc về nhà lãnh đạo do nhân dân lựa chọn. Vì lẽ đó, với nhà lãnh đạo thì quyền lực chỉ là một phương tiện để thực hiện công việc lãnh đạo của mình. Còn với nhà cầm quyền, quyền lực trở thành mục đích. 

Lưu ý rằng, sự ban trao lãnh đạo này chỉ có thể được thực hiện thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch. Điều đó có nghĩa, bầu cử để lựa chọn nhà lãnh đạo là quan trọng, nhưng cách thức bầu cử còn quan trọng hơn. Chỉ thông qua bầu cử dân chủ, nhà lãnh đạo mới được ban trao quyền lực. Còn bất kỳ hình thức ban trao nào khác, dù nhân danh bất cứ điều gì hoặc bất cứ giá trị nào, như dòng dõi của các hoàng gia, hay đức tin của các tôn giáo, hay đề cử riêng của các đảng phái, hay bất cứ một nhân danh nào khác ngoài lá phiếu của người dân, thì đó không phải là một sự ban trao đích thực, mà thực chất là một sự sắp xếp. Lãnh đạo có được thông qua sắp xếp, dù theo chủ ý nhất thời của một thế lực nào đó, hoặc là sự mở rộng tự nhiên của truyền thống, thì cùng lắm cũng chỉ có thể là nhà cầm quyền. Còn nếu không thì sẽ rơi vào trạng thái bù nhìn cho các thế lực hậu trường giật dây. 

Đó là lý do vì sao ở các quốc gia quân chủ lập hiến, khi ngôi vua được kế thừa theo kiểu cha truyền con nối, thì ngôi vua đó chỉ có giá trị biểu trưng về mặt văn hóa và truyền thống, đóng vai trò như một kết nối trong khối đoàn kết của toàn dân, còn nhà lãnh đạo thực sự đang dẫn dắt quốc gia đó vẫn phải được bầu theo nhiệm kỳ để thông qua đó, nhà lãnh đạo được ban trao quyền lực. 

Bản chất công việc lãnh đạo 

Điểm khác biệt thứ hai là khác biệt trong công việc thực sự của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền. Với nhà lãnh đạo, công việc của anh ta là thiết kế một tương lai chung cho tất cả mọi người, thuyết phục được mọi người tin tưởng vào tương lai đó, và cuối cùng là tìm mọi cách để hiện thực hóa tương lai đó. Anh ta được ban trao quyền lực, và rộng hơn là ban trao sự lãnh đạo, để thực hiện công việc thiết kế tương lai và hiện thực hóa tương lai này. Thiết kế tương lai chung, trước hết dưới dạng các viễn cảnh được mô tả rõ ràng và thuyết phục, và sau đó là tìm mọi cách để hiện thực hóa tương lai đó, là công việc chủ chốt của nhà lãnh đạo. 

Nhưng với nhà cầm quyền, vì quyền lực và vị trí của họ không đến thông qua sự ban trao tự nguyện của người dân, công việc của nhà cầm quyền sẽ chỉ tập trung vào việc giữ cho bằng được quyền lực và vị trí của mình. Họ sẽ tìm mọi cách hợp thức hóa việc nắm giữ quyền lực và vị trí này, thông qua mọi phương tiện, không chỉ tuyên truyền mà còn cả đe dọa và đàn áp. 

Ngay cả khi nhà cầm quyền chủ ý thiết kế và hiện thực hóa một tương lai nào đó, thì tương lai này vẫn sẽ bị giới hạn bởi điều kiện tiên quyết là không ảnh hưởng đến quyền lực và vị trí anh ta đang nắm giữ. Vì thế, tương lai đó không bao giờ là tương lai tốt nhất có thể có, và chỉ có thể đáp ứng được mối quan tâm của một nhóm người có lợi ích liên quan, chứ không phải của tất cả mọi người, trừ phi nhà cầm quyền tự chuyển hóa trở thành nhà lãnh đạo. 

Miền thời gian lưu trú 

Điểm khác biệt thứ ba là miền thời gian mà nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền đến sống và làm việc ở trong đó. Với nhà lãnh đạo, miền thời gian mà họ sống và làm việc là tương lai của chính dân tộc họ, và họ phải là hiện thân của chính tương lai đó. Vì thế, họ phải là người có tầm nhìn, phải có khả năng nhìn thấy tương lai, từ đó thiết kế ra một tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người và tạo động lực để tất cả mọi người cùng hiện thực hóa tương lai đó. Nhà lãnh đạo tìm thấy bản thân mình và tính chính danh trong công việc của mình ở trong tương lai. Nhưng tương lai bao giờ cũng bất định, vì lẽ đó, nhà lãnh đạo đòi hỏi không chỉ giỏi về chuyên môn, mà quan trọng trước hết là bản lĩnh dám đối mặt với sự thay đổi, dám ra những quyết sách lớn và dám chịu trách nhiệm với những quyết sách lớn đó. Nhưng các nội dung này lại phải đặt trong bối cảnh của sự ban trao quyền lãnh đạo từ phía người dân, nên nhà lãnh đạo trước hết phải có đạo đức để tạo ra sự tin tưởng, và khả năng tập hợp người tài để sau khi đã thiết kế ra một tương lai chung, thì còn phải hiện thực hóa tương lai đó. 

Còn nhà cầm quyền thì ngược lại, họ sẽ thường trú ngụ trong quá khứ, vì chỉ trong quá khứ, nơi các sự kiện đã xảy ra, họ mới tìm ra được các lý do để biện minh cho sự tồn tại của mình ở trong hiện tại, theo nghĩa hiện tại là sự nối dài của quá khứ. Còn trong tương lai, các sự kiện chưa xảy ra, nên dù có muốn, họ cũng không thể sử dụng. Vì thế, nhà cầm quyền sẽ không cần bản lĩnh đương đầu với một tương lai bất định, mà chỉ cần nhiều mưu mô để bày binh bố trận, sắp xếp quá khứ và hiện tại sao cho có lợi nhất cho mình. Nhà cầm quyền cũng sẽ không cần người tài để hiện thực hóa một tương lai đã được thiết kế, mà cần trước hết các bè phái hoặc nhóm lợi ích thân tín để bảo vệ lẫn nhau và duy trì quyền lực cũng như vị trí hiện thời. 

Trong nhiều trường hợp, nếu nhà cầm quyền cũng quan tâm đến tương lai và thiết kế ra một tương lai mới, thì phải xét xem tương lai đó đáp ứng được lợi ích chính của nhóm đối tượng nào. Nếu tương lai đó chỉ phục vụ cho lợi ích của một nhóm, nhưng nhân danh cả dân tộc, thì đó là một thủ thuật của nhà cầm quyền, còn nếu tương lai đó đáp ứng lợi ích chung của toàn dân, thì trong trường hợp đó, nhà cầm quyền đã tự chuyển hóa thành nhà lãnh đạo. 

Như vậy có thể thấy, nhà lãnh đạo là người sống trong vùng thời gian từ hiện tại đến tương lai, còn nhà cầm quyền sẽ sống trong vùng thời gian từ hiện tại đến quá khứ. Vậy nên, khi nghe các ứng viên thuyết trình, nếu họ nói về tương lai và về chương trình hành động để hiện thực hóa tương lai đó, và thuyết phục người dân tin tưởng vào tương lai đó và đồng lòng hiện thực hóa nó, ta biết đó là nhà lãnh đạo. Còn nếu ứng viên nói về quá khứ, và dùng quá khứ như một sự đảm bảo cho tính chính đáng của mình, thì ta biết đó là nhà cầm quyền. 

Một cách logic, chỉ người sống trong tương lai mới có thể đưa toàn dân đi đến tương lai. Sự phát triển đột phá sẽ chỉ xảy đến trong trường hợp này. Còn người sống trong quá khứ, sẽ muốn toàn dân trú ngụ ở trong quá khứ, đặc biệt là quá khứ có chút hào quang. Tuy nhiên, thời gian không ngừng trôi, tương lai không thể tránh, nên tương lai trong trường hợp của nhà cầm quyền sẽ là chỉ đơn thuần là sự mở rộng của quá khứ. Nó chỉ đơn thuần là sự tịnh tiến trong thời gian của quá khứ. Mọi sự đều có thể đoán biết trước mà không có sự phát triển đột phá nào có thể đến. Đó chính là lý do vì sao các thể chế phong kiến có thể kéo dài hàng nghìn năm mà sự phát triển cứ như giậm chân tại chỗ. Vì họ chỉ sống trong quá khứ, luôn lấy quá khứ làm chuẩn mực, nên không vượt qua được quá khứ của mình. Mà đã không vượt qua được quá khứ của mình thì thời gian trôi họ cũng sẽ chỉ giậm chân tại chỗ mà thôi. 

Nếu giậm chân tại chỗ có thể là mục đích của nhà cầm quyền, thì đó là điều không nhà lãnh đạo nào mong muốn. Vì khi để dân tộc giậm châm tại chỗ, trong khi các dân tộc khác vẫn không ngừng mải miết tiến lên, nhà lãnh đạo đã không hoàn thành sứ mệnh của mình, vì thế sự lãnh đạo mà họ đã được ban trao sẽ bị nhân dân lấy lại. Còn nhà cầm quyền thường tìm cách kiểm soát xã hội để ngăn chặn nguy cơ này, nên họ có thể hài lòng với trạng thái giậm chân tại chỗ này, miễn sao quyền lực và vị trí của mình được đảm bảo. 

Hệ thống chính trị hướng đến 

Điểm khác biệt thứ tư là khác biệt ở hệ thống chính trị nhà lãnh đạo hoặc nhà cầm quyền xây dựng lên. 

Để thực hiện được công việc lãnh đạo của mình, một trong những nền tảng bắt buộc nhà lãnh đạo phải có, đó là sự chính trực vẹn toàn trong công việc và lời nói của mình. 

Lý tưởng của nhà lãnh đạo, ước mơ hay khát vọng của họ, không ai có thể truy nhập trực tiếp được. Nhưng người dân sẽ biết được gián tiếp những điều đó thông qua lời nói và việc làm của nhà lãnh đạo. Và quan trọng hơn, người dân có thể giám sát được những điều đó, để từ đó tin tưởng và ban trao sự lãnh đạo. Chỉ khi được ban trao sự lãnh đạo, trong tin tưởng và tự nguyện, thì nhà lãnh đạo mới có thể hành xử công việc lãnh đạo của mình. Và cũng chỉ khi đó, các dự án lãnh đạo mới có thể thành việc. 

Sự chính trực vẹn toàn này sẽ không chỉ dừng ở trong lời nói và việc làm của nhà lãnh đạo, mà phải được mở rộng ra cả hệ thống mà người đó thiết kế và vận hành, và thể hiện ra thành sự minh bạch. Một hệ thống chính trực là một hệ thống minh bạch. Chính vì vậy, nhà lãnh đạo bao giờ cũng hướng đến việc xây dựng một hệ thống minh bạch, còn nhà cầm quyền thì không. Vì với nhà cầm quyền, quyền lực đến được không qua sự ban trao, mà qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt. Vì thế, nhà cầm quyền sẽ không quan tâm đến sự tin tưởng của người dân, mà tập trung vào tuân thủ và đàn áp. 

Để công việc lãnh đạo được thành công, nhà lãnh đạo bắt buộc phải thuyết phục được toàn dân tham gia, và huy động được mọi nguồn lực của người dân, để hiện thực hóa các dự án lãnh đạo của mình, hay rộng hơn là toàn bộ tương lai mà nhà lãnh đạo thiết kế ra. Để làm được điều này, yêu cầu tiên quyết là toàn dân phải có cơ hội được tham gia ngay từ những khâu đầu tiên, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện của mình. 

Muốn vậy, nhà lãnh đạo phải có thêm một nền tảng cốt yếu khác, là bao dung hội hợp. Chỉ khi có được sự bao dung hội hợp thì nhà lãnh đạo mới có thể thu hút được đủ người tài, và có được đủ sự ủng hộ của toàn dân để hiện thực hóa các chương trình lãnh đạo của mình. 

Với hoàn cảnh lịch sử đặc thù của Việt Nam, khi chiến tranh xảy ra liên miên, chia cắt lòng người còn nặng nề, thì bao dung hội hợp lại càng trở nên quan trọng trong sự phát triển của đất nước. 

Sự bao dung hội hợp này, cũng tương tự như chính trực vẹn toàn, phải được mở rộng ra cả hệ thống chính trị mà nhà lãnh đạo xây dựng lên. 

Vậy đâu là một hệ thống có khả năng bao dung hội hợp với mọi người dân? Rõ ràng, đó chỉ có thể là một hệ thống dân chủ. Vì hệ thống dân chủ cho phép mọi người dân đều có cơ hội được tham gia và đóng góp, được bày tỏ chính kiến của mình trong việc phát triển đất nước. Còn một hệ thống độc tài sẽ không có khả năng làm được việc này. 

Và trở lại cách thức đạt được quyền lực rằng, nhà lãnh đạo sẽ đạt được quyền lực thông qua sự ban trao, mà cụ thể là một cuộc bầu cử dân chủ và minh bạch, còn nhà cầm quyền sẽ đạt được quyền lực thông qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt, sẽ thấy rằng nhà lãnh đạo sẽ hướng đến việc xây dựng một hệ thống chính trị dân chủ, không chỉ vì một hệ thống như vậy sẽ mang lại tính chính danh cho quyền lực và vị trí mà họ đang nắm giữ, mà nó còn là một công cụ đắc lực để họ huy động mọi người lực trong việc hiện thực hóa các chương trình lãnh đọa của mình. Còn nhà cầm quyền sẽ lảng tránh việc này, vì nó đe dọa trực tiếp đến quyền lực và vị trí mà họ đang có được thông qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt. 

Vậy nên, nhìn vào hệ thống chính trị đang được xây dựng, có thể biết được đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền. 

Sứ mệnh cá nhân 

Điểm khác biệt thứ năm là sứ mệnh cá nhân mà nhà lãnh đạo hoặc nhà cầm quyền tự đặt ra cho mình. 

Nhà lãnh đạo, xuất phát từ cách thức đạt được quyền lực và bản chất công việc của mình, thường tự đặt ra một sứ mệnh cá nhân lớn lơn mối quan tâm của bản thân, gia đình hoặc phe nhóm mình, tức gắn liền sứ mệnh cá nhân của mình với tương lai của cộng đồng mình dẫn dắt. Vì sao vậy? Vì chỉ thông qua cách đó, nhà lãnh đạo mới có được sự tin tưởng và ban trao sứ mệnh lạo của người dân. Và cũng chỉ bằng cách đó, nhà lãnh đạo mới có thể thuyết phục người dân tin vào tương lai mà nhà lãnh đạo thiết kế ra, và cùng hợp tác với nhà lãnh đạo để hiện thực hóa tương lai đó. Nếu sứ mệnh của nhà lãnh đạo chỉ đơn thuần là để vinh thân phì gia, hoặc chỉ nhằm mang lại lợi ích cho phe nhóm mình, thì không có cách nào thuyết phục được người dân tin tưởng để ban trao sự lãnh đạo. Đó là lý do vì sao trong các cuộc bầu cử dân chủ, nhà lãnh đạo tương lai luôn phải truyền thông và trình bày về chương trình hành động của mình, để thông qua đó người dân thấy và đánh giá được tương lai mà nhà lãnh đạo dự kiến sẽ tạo ra có đáng thuyết phục, sứ mệnh của nhà lãnh đạo có gắn với mệnh vận mệnh của dân tộc hay không. Chính vì lẽ đó, một nhà lãnh đạo đích thực luôn mang trong mình một sứ mệnh cá nhân lớn lao, và luốn hướng đến việc trở thành và hành động bởi những điều lớn hơn bản thân, gia đình hay phe nhóm của mình. 

Nhà cầm quyền thì ngược lại. Do cách thức đạt được quyền lực thông qua kế truyền, sắp xếp hoặc chiếm đoạt, và bản chất của công việc cầm quyền là tìm mọi cách để hợp thức hóa và duy trì quyền lực đã có, sứ mệnh của nhà cầm quyền thường chỉ giới hạn trong việc duy trì và trục lợi từ quyền lực đang có, cho cá nhân, gia đình hoặc phe nhóm của mình. Nhà cầm quyền không quan tâm đến việc mình có được người dân tin tưởng ban trao cho sự lãnh đạo hay không, nên không có động lực đặt ra những sứ mệnh cá nhân lớn hơn bản thân mình, và xông pha gánh vác những công việc khó khăn liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc. Trong hầu hết các trường hợp, nhà cầm quyền sẵn sàng hy sinh lợi ích của dân tộc để đánh đổi lấy lợi ích cá nhân. Lịch sử khắp nơi đã cho thấy, nhiều nhà cầm quyền sẵn sàng đánh đổi chủ quyền hoặc đẩy dân tộc đến bước tồn vong chỉ để duy trì sự cầm quyền hoặc bảo vệ lợi ích của cá nhân mình. Thậm chí, họ sẵn sàng mua bán đổi trác lợi ích của dân tộc chỉ để thỏa mãn hưởng thụ cá nhân, nhiều khi chỉ tính bằng một vài cuộc ăn chơi trác táng. Đó là lý do vì sao ở những nước dân chủ, đạo đức cá nhân hay cách thức sử dụng tài sản công lại là vấn đề quan trọng và nhạy cảm với nhà lãnh đạo. Nhiều người đã phải từ chức vì những vụ việc cá nhân cỏn con như vậy. Nhưng dưới con mắt của người dân thì vấn đề không hề cỏn con chút nào, bởi qua đó, người dân sẽ nhận ra sứ mệnh trong công việc mà anh đang thực thi, và nhận diện ra anh là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền. Nếu đó là nhà cầm quyền, người dân sẽ thu hồi lại sự lãnh đạo mà họ đã ban trao, trước hết thông qua công luận, sau là qua các thủ tục pháp lý nếu cần, vì thế nhà lãnh đạo không còn cách nào khác là phải từ chức. 

Tâm thế hành xử 

Điểm khác biệt thứ sáu là khác biệt trong tâm thế hành xử của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền. Xuất phát từ cách thức đạt được quyền lực, và bản chất của công việc lãnh đạo và cầm quyền là khác nhau, nên tâm thế hành xử của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền cũng khác nhau. Nếu như nhà lãnh đạo dám nhìn thẳng vào hiện tại, đối mặt với hiện tại theo cách nó đúng là như vậy, để từ đó tìm ra sự thật và các cơ hội, các điều kiện tốt nhất để hiện thực hóa tương lai mà họ thiết kế ra, thì nhà cầm quyền sẽ thường nhìn hiện tại qua lăng kính bảo vệ quyền lực, vì thế thường thấy hiện tại như một sự đe dọa, do đó thường chỉ nhìn ra các thế lực thù địch, nguy cơ và sự bất an. Vì lẽ đó, nếu nhà lãnh đạo luôn là người có tâm thế chủ động khi đối mặt với hiện tại, theo nghĩa luôn chủ động tìm ra sự thật và kết nối các sự thật, tổ chức các nguồn lực hiện có của hiện tại để hiện thực hóa tương lai mà họ đã thiết kế ra, thì nhà cầm quyền sẽ luôn ở trong tâm thế bị động trước hiện tại, khi luôn coi hiện tại là một mối đe dọa cần xử lý, thậm chí ngay cả khi anh ta chủ động xử lý hiện tại như xử lý một mối đe dọa thì trên thực tế đó vẫn là một sự bị động vì hiện tại đang diễn biến theo hướng buộc anh ta phải làm như vậy. 

Chính vì thế, nhìn phong thái hành xử của những người đứng đầu của tổ chức, và rộng hơn là của đất nước, trước những diễn biến của hiện tại, chúng ta sẽ biết được đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền. 

Hiển nhiên, một người chủ động là một người có khả năng tạo ra sự thay đổi và làm chủ sự thay đổi đó. Đó là một người có quyền lực thực sự. Còn một người bị động thì muốn hay không anh ta vẫn chỉ là nạn nhân của sự thay đổi. Đó là một người không có quyền lực thực sự, dù trên thực tế anh ta có đủ quyền uy và chức vị để hành xử như một người có quyền lực. Điều này cũng dễ hiểu khi ta trở lại cách thức đạt được quyền lực của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền, và thấy rằng, quyền lực thực sự chỉ có được khi nó được ban trao trong sự tin tưởng và tự nguyện, còn quyền uy có thể đạt được thông qua sắp xếp hoặc cưỡng đoạt. 

Nói cách khác, nhà lãnh đạo có được quyền lực thông qua sự ban trao, trong tự do và tin tưởng. Còn nhà cầm quyền có được quyền uy thông qua sự sắp xếp và chiếm đoạt, trong mưu mô và đe dọa. 

Chuyển hóa cầm quyền – lãnh đạo 

Cần lưu ý là có tồn tại sự chuyển hóa qua lại giữa lãnh đạo và cầm quyền. Nếu như trong quá khứ, một người hoặc nhóm người đã từng là nhà lãnh đạo vì họ được người dân tin tưởng trao quyền lãnh đạo, do họ đã tạo ra được một tương lai chung đáp ứng được mối quan tâm của tất cả mọi người, họ thuyết phục mọi người tin theo và bản thân họ là người nỗ lực hiện thực hóa tương lai đó, mà thường gặp nhất là lãnh đạo của các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, thì rất có thể sau đó khi sứ mệnh ban đầu đã hoàn tất, họ sẽ không còn là nhà lãnh đạo nữa, mà đã chuyển hóa thành nhà cầm quyền khi chỉ tập trung vào việc duy trì quyền lực của mình, và dùng hào quang của quá khứ để hợp thức hóa sự cầm quyền đó, trong khi tương lai mà họ hướng đến chỉ nhằm đáp ứng mối quan tâm của chính họ và một nhóm người có lợi ích liên quan chứ không phải là một tương lai chung đáp ứng mối quan tâm của tất cả mọi người. Trong trường hợp ấy, người đó hoặc nhóm người đó đích thị là một nhà cầm quyền, chứ không phải nhà lãnh đạo. 

Ngược lại, một nhà cầm quyền khi chuyển đổi công việc của mình từ việc tìm mọi cách bảo vệ quyền lực và lợi ích của mình hiện thời, sang thiết kế một tương lai chung cho toàn dân tộc, thuyết phục toàn dân tin vào tương lai đó và nỗ lực hiện thực hóa nó thì nhà cầm quyền khi đó đã chuyển hóa trở thành nhà lãnh đạo. Trong nhiều trường hợp, tuy sự chuyển hóa này không đủ rõ ràng về hình thức, và nhà cầm quyền tuy vẫn mang danh là nhà cầm quyền, thậm chí mang danh độc tài, thì về nội dung, người đó đã tự chuyển hóa để trở thành nhà lãnh đạo, vì công việc người đó thực hiện và sứ mệnh mà người đó gánh vác là công việc và sứ mệnh của nhà lãnh đạo, cho dù cách thức đến với công việc và sứ mệnh đó không được chính danh thông qua sự ban trao của người dân. Tuy nhiên, lịch sử sẽ công bằng nhìn ra người đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền, và sẽ ghi nhận đầy đủ những gì mà người đó đóng góp. 

Với Việt Nam, câu chuyện về lãnh đạo và cầm quyền là câu chuyện thời sự. Chúng ta đã từng có nhà lãnh đạo, nhưng chưa bao giờ chúng ta thiếu các nhà lãnh đạo như hiện giờ. Nhìn đâu cũng chỉ thấy nhà cầm quyền, ở mọi cấp độ. Câu hỏi đặt ra là: Liệu chúng ta có tiếp tục cần các nhà cầm quyền? Hiển nhiên là không, chúng ta cần các nhà lãnh đạo chứ không cần các nhà cầm quyền. Nhưng bằng cách nào để có được các nhà lãnh đạo, và làm sao để tạo ra một môi trường để cho nhà lãnh đạo xuất hiện và thực hiện công việc của mình? 

Câu trả lời xin bỏ ngỏ cho những ai đang suy tư và hành động để thúc đẩy sự phát triển đất nước, và đặc biệt cho những người trong cuộc chuyển giao quyền lực đang diễn ra những ngày đầu năm 2016 này. 

Trong miệng bão

Giáp Văn Dương

Chiều nay một bạn giáo viên trẻ trong nhóm của tôi trở lại văn phòng để hàn huyên sau một tuần ra đời dạy học.

Ngỡ ngàng như từ cổ tích bước ra đời thực. Chống chếnh như từ đời thực bước ra cổ tích. Đang chỗ này mà như ở chỗ nào. Xa lạ mà thân quen rồi thân quen mà thành xa lạ. Vào đời rồi như được thấy mình mà lại không được thấy mình. Khắc khoải vào ra khắc khắc khoải vào ra muốn đi mà lại không đi muốn khác mà lại không muốn khác. Đời diễn nhịp của đời em diễn nhịp của em để mình theo đời hay là đời theo em bỗng thành ngoài sức với.

Bỗng thành ngoài sức với…

Thôi cứ thì để sếp tính mình cứ dạ vâng mình là lính mới mình chỉ đi nhẹ cười duyên chỉ đi nhẹ cười duyên duyên. Quyết tâm không nói quyết tâm không ý kiến quyết tâm (đủ ba lần).

Một thoáng xốn xang khi nào mình được làm chủ nhiệm vì được làm chủ nhiệm sẽ có nhiều cải thiện.

Hai trăm triệu…

Ngoài kia những công văn đang bay phấp phới những chỉ thị đang bay phấp phới. Câu chuyện mới bỗng trở thành muôn câu chuyện cũ của muôn câu chuyện cũ. Đã bảo khác đi đã muốn khác đi đã định khác đi nhưng ai cho phép được khác đi. Mà muốn khác đi thì phải nói rõ khác đi là gì mà không ai nói rõ khác đi là gì. Là gì?

Im lặng…

Thôi thì ông chẳng bà chuộc truyền thông vào cuộc ào ào đập phá bà con vào cuộc ào ào hô hét. Câu chuyện nát bét giữa một cơn chén ở trong miệng bão. À mà không giữa một cơn bão ở trong miệng bão ở trong miệng chén. À mà quên giữa một cơn bão ở trong miệng chén. Chết chửa!

Chuyện này là tốt chuyện này phải tốt cơ quan bảo vậy nhưng dân không bảo vậy. Chuyện này là hay chuyện này phải hay thống kê bảo vậy nhưng báo không bảo vậy. Ai cho phép được tốt ai cho phép được hay ai cho phép được khác đi ai cho phép được nguyên như cũ!

Canh hẹ…

Nhân danh ai cho phép được cũ mà nhân danh ai cho phép được mới. Năng lực thì tốt tích hợp thì hay nhưng bỗng giật mình rồi bỗng giật giật mình nồi cơm của ta không còn Thạch Sanh như trước. Không còn Thạch Sanh như trước (lắc đầu).

Nhà quan đi trước làng nước đi sau đàn kiến sau rốt trên đỉnh ngọn đa gặp phải cành cụt di ra đi vào. Gặp phải cành cụt đi đâu bây giờ. Đi đâu bây giờ?

Lô tô chứng khoán chuyện ở ngoài kia hay chuyện ở đây ngay trong học đường. Thống kê cho thấy mọi chuyện đều tốt mọi thứ đều tốt cớ sao kêu gào mà sao kêu gào mọi chuyện đều tốt.

Tụ hội về đây bá quan văn võ à mà còn đâu bá quan văn võ tụ hội về đây cùng nhau giảng dạy cùng nhau giảng giải dự án băng băng băng băng dự án. Dzô!!!

Cuộc chiến cũ mới ai bảo cuộc chiến cũ mới? Hoàng hôn đã xuống đến giờ ăn cơm.

Đến giờ ăn cơm nhưng không ăn cơm vì tiếc hoàng hôn vì tiếc thời gian vì đời quá ngắn. Để lại dấu ấn nhưng làm sao để lại dấu ấn khi ta không muốn để lại dấu ấn. Huyễn tưởng!

Bê một tách trà nhìn trong cơn bão tìm trong cơn bão một chốn bình yên. Bình yên?!

Ngoài kia trẻ thơ vẫn cười vẫn nói ngoài kia cuộc đời vẫn chảy vẫn trôi ngoài kia cây táo vẫn đang nở hoa mà không hay biết vì sao nở hoa.

Em ơi, thôi đừng băn khoăn thôi đừng khắc khoải mình cứ là mình em cứ là em buồn em khóc em vui em cười vào giờ lên lớp em dạy tận tâm có gì không ưng thì em ý kiến.

Thì em ý kiến cho đời thêm trong thì em kiến kiến cho đời thêm xanh thì em ý kiến cho học trò em có được niềm vui cho học trò em được học được chơi cho học trò em được trở thành người cho học trò em làm người đúng nghĩa.

Em không gây hại…

Rồi em thanh thản rồi em thảnh thơi rồi em sẽ thấy cơn bão sẽ qua rồi em sẽ thấy bão trong tách trà rồi em sẽ thấy đời không vướng bận.

Vui lên em ơi. Vui bước vào đời…