Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2017

Khai giảng khóa học "Tôi là ai?" tại Tp. HCM ngày 8-9/4/2017

Lời dẫn: Từ trước đến nay, tôi chưa bao giờ đăng tin về các khóa đào tạo của GiapCoach trên trang này. Vì đây được coi như trang lưu trữ các bài báo, bài viết chứ không phải là các hoạt động khác. 

Sau hơn một năm nhìn lại, thì thấy những sự kiện đó đã không được lưu trữ ở bất cứ đâu, theo đúng nhịp thời gian của nó. Thấy thật là tiếc quá.  Vậy là từ hôm nay, tôi sẽ cập nhật toàn diện hơn các hoạt động của mình ở trang này. Bài đầu tiên, xin dành cho thông báo về khóa học có tên rất lạ " Tôi là ai?", sẽ diễn ra ở Tp. HCM ngày 8-9/4/2017 này.

---
Khai giảng khóa học: TÔI LÀ AI? Tp. HCM, ngày 8-9/2017.

Trên hành trình của đời mình, nếu bạn không biết được mình là ai thì bạn đang giống như người lữ hành vừa không biết đích đến, lại vừa không biết được vị trí hiện thời của mình.

Bạn không biết đích đến vì bạn không biết được con người mình muốn trở thành là gì. Bạn không biết được vị trí hiện thời của mình vì bạn không hiểu được mình đang là ai, ai đã tạo ra mình và vì sao lại như vậy.

Nếu bạn đang ở trong hoàn cảnh đó, vừa không biết vị trí hiện thời lại vừa không biết đích đến, thì hẳn nhiên bạn sẽ không tìm được đường đi. Bạn sẽ chỉ quẩn quanh tại chỗ và để thời gian kéo lê đi trong cuộc sống. Bạn sẽ vô cùng bối rối và mệt mỏi. Bạn sẽ thấy cuộc đời chỉ là một chuỗi ngày lặp đi lặp lại thật nhàm chán. Bạn sẽ không biết mình sống để làm gì. Khi ấy, mọi cố gắng của bạn đều trở nên vô nghĩa!

Đây không phải là tình trạng của riêng bạn. Hầu hết mọi người đều đang sống ở trong tình trạng này, đều đang cố-gắng-lết-qua-cuộc-sống-ngày-qua-ngày-trong-mệt-mỏi-nhàm-chán-mà-không-biết-để-làm-gì. Đây là những người đang hoài phí thời gian và sức lực, đang đi qua cuộc sống trong sự hiển-nhiên-đờ-đẫn và không biết làm gì với cuộc đời mình.

Chỉ một số ít người là thức tỉnh, biết được mình là ai, người mình muốn trở thành là gì, sứ mệnh cá nhân của mình là gì, ta sẽ làm gì với cuộc đời mình…Chỉ những người này mới thấu hiểu bản thân, có được sứ mệnh cá nhân và làm chủ sự trở thành của mình. Họ là những con người tự do và tỉnh thức, vì thế sống một cuộc đời đáng sống.

Bạn có đang ở trong tình trạng này? Bạn có muốn trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” và sống một cuộc đời đáng sống?

Thông tin chi tiết về khóa học xem TẠI ĐÂY:

Học để làm người tự do

Giáp Văn Dương
Tôi cho rằng, mục tiêu của giáo dục là giúp cho người học vượt thoát khỏi những giới hạn do chính giáo dục mang lại. Học lại là hoạt động trọng tâm của giáo dục. Vì thế, câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi “Học để làm gì?” sẽ là: Học để trở thành con người tự do, trong đó quan trọng nhất là tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành, tự do kiến tạo.


Học để làm gì? là một câu hỏi cơ bản nhưng nhiều khắc khoải. Trong mấy năm vừa rồi, mỗi khi có dịp, tôi lại tiến hành những khảo sát bỏ túi với học sinh, sinh viên về câu hỏi nghe qua rất đơn giản này. Hầu hết các em không trả lời được.

Nếu gặng hỏi thì thường sau một hồi suy nghĩ, các em sẽ đưa ra một trong các câu trả lời khuôn mẫu: Học để làm người, học để phát triển bản thân, học để có công ăn việc làm, học để sau này đỡ khổ, học để thi v.v.

Ngay cả sau khi đã suy nghĩ như vậy thì phần lớn những câu trả lời này đều là một sự đối phó. Khi được hỏi đây là câu trả lời các em vừa nghĩ đến, hay đã nghĩ trước đó rồi, thì trên 80% cho biết vừa mới nghĩ đến. Và cũng trên 80% các em cho biết, chưa bao giờ tự mình đặt ra câu hỏi “Học để làm gì?” cho chính bản thân mình.

Chưa kể, nếu hỏi sâu hơn một chút, rằng: học để làm người, nhưng đó là con người nào, hoặc học để phát triển cá nhân, nhưng là phát triển cái gì, thì gần như 100% các em đều bí.

Điều này cũng hợp lý, vì trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, tôi cũng chưa bao giờ tự đặt ra những câu hỏi đó cho mình. Các thầy cô của tôi cũng không bao giờ nhắc đến. Đến lớp, học bài, về nhà, làm bài tập, đến lớp, học bài, về nhà, làm bài tập… là một chu trình khép kín mỗi ngày. Còn học, kiểm tra, thi, rồi lại học, kiểm tra, thi là một chu trình khép kín của mỗi năm học. Phần lớn chúng ta đi qua và thực hiện chu trình đó như một sự hiển-nhiên, không hề chất vấn ý nghĩa của nó đối với sự trưởng thành của chính mình. Cho đến một ngày ra trường, ta giật mình tự hỏi, và hoang mang khi biết rằng mình đã dành mười mấy năm đi học, nhưng không biết học để làm gì!

Học mà sau mười mấy năm vẫn không biết học để làm gì thì chưa gọi là học. Người học khi đó đã bị mắc kẹt vào chính những điều mình được học và bị học. Sự học như vậy chưa làm người học thức tỉnh, dám thoát ra khỏi những điều mình đã học, sàng lọc lại và sử dụng chúng như những công cụ phục vụ cho công việc và cho sự trưởng thành về trí tuệ của chính mình.

Chỉ dấu đầu tiên cho những người trưởng thành như thế là khả năng tư duy độc lập, và xa hơn là những con người tự do, có khả năng tự lãnh đạo cuộc đời mình, và dám chịu trách nhiệm với chính mình về sự tự lãnh đạo đó.

Vấn đề đặt ra: Con người tự do là con người nào mà lại được coi là đích đến của giáo dục?
Tự do tư tưởng
Con người tự do trước hết thể hiện ở khả năng tự do tư tưởng của người đó. Để làm được như vậy, người đó phải có khả năng sử dụng lý trí của mình để tư duy một cách độc lập hầu phát triển nhận thức của riêng mình, nhưng cũng lại tôn trọng nhận thức của người khác.

Biểu hiện thứ hai của tự do tư tưởng là khả năng dịch chuyển nhận thức, dịch chuyển các khung tham chiếu mà mình đang có; làm mới hoặc từ bỏ nhận thức đã có để đón nhận một khung nhận thức mới khách quan, toàn diện hơn. Một người không có khả năng dịch chuyển nhận thức thì sẽ mắc kẹt vào chính nhận thức của mình. Khi đó anh ta không sử dụng nhận thức mà đang bị nhận thức, đóng vai trò như một định kiến, sử dụng mình.

Biểu hiện thứ ba của tự do tư tưởng là khả năng diễn đạt ý kiến, suy nghĩ, tư tưởng của mình một cách công khai cho đại chúng. Suy nghĩ, tư tưởng diễn ra trong đầu mỗi người, người ngoài không thể truy nhập được. Nếu anh không diễn đạt công khai cho người khác biết để cùng thảo luận, để được đón nhận hoặc bác bỏ, thì sự tự do tư tưởng đó không có ý nghĩa. Khi đó tư tưởng sẽ luôn bị giới hạn, thiếu kiểm chứng và phản biện khách quan, và như vậy tự do tư tưởng sẽ chỉ là che đậy cho một sự chủ quan và sợ hãi, chứ không phải là tự do tư tưởng đích thực.
Tự do lựa chọn
Sau khi đã có tự do tư tưởng thì con người tự do sẽ thực thi nó trong đời sống cá nhân và xã hội thông qua tự do lựa chọn. Nói cách khác, người đó phải có khả năng đưa ra lựa chọn của mình một cách chân thật, trong tự do và sau khi suy xét, chứ không vì một sự ép buộc hay a dua nào.

Khác với tự do tư tưởng có khi chỉ diễn ra trong tâm trí của mỗi người, tức trong thế giới chủ quan chỉ mình người đó biết, tự do lựa chọn tạo ra tác động đến bản thân chủ thể và thế giới xung quanh, và người đưa ra lựa chọn sẽ phải chịu trách nhiệm về tác động đó, với pháp luật hoặc luân lý xã hội.

Tự do lựa chọn sẽ luôn đi kèm với việc tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của bản thân. Một người tự do lựa chọn sẽ là chủ nhân đích thực của đời mình, sống cuộc đời của chính mình, do mình lựa chọn và tự chịu trách nhiệm, chứ không phải do thầy cô hay bố mẹ chọn thay, cũng không phải do một sự áp đặt nào khác.

Như thế, học để trở thành người có tự do lựa chọn là học cách lãnh đạo bản thân mình, làm chủ cuộc đời mình, và tự chịu trách nhiệm về các lựa chọn của mình, trong tự do và thấu hiểu.

Lưu ý rằng, tự do tài chính, một khái niệm đang được nói nhiều trong giới trẻ, chỉ là một biểu hiện cụ thể của tự do lựa chọn về mặt tài chính.
Tự do trở thành
Một cách hiển nhiên, sự trở thành của mỗi người là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài. Nếu tự do tư tưởng là thứ tự do có tính cách nội tại, thì tự do lựa chọn lại có tính ngoại. Chính sự tương tác giữa hai yếu tố bên trong và bên ngoài ở thời điểm hiện thời này sẽ tạo ra sự trở thành cho mỗi người ở thời điểm kế tiếp. Tự do trở thành vì thế chính là khả năng làm chủ sự trở thành của mình, thông qua việc thấu hiểu làm chủ những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình.

Vì những gì diễn ra bên trong mình không chỉ là suy nghĩ và tính toán, mà một phần rất lớn và quan trọng là cảm xúc. Một người thấu hiểu những gì đang diễn ra bên trong mình vì thế đòi hỏi không chỉ có trí tuệ của lý trí, mà còn thấu hiểu và phát huy được trí tuệ cảm xúc trong một sự cân đối, hài hòa.

Cũng lại vì những gì diễn ra bên ngoài mình, tức thế giới xung quanh, không thể chỉ đơn thuần gói gọn trong các mô tả và diễn giải có tính lý thuyết, nên một người muốn thấu hiểu những gì đang diễn ra trong thế giới xung quanh đòi hỏi trước hết ở trải nghiệm và khả năng kết nối với thế giới đó, sau đó là trí tuệ phân tích và trực giác, để thấu hiểu nó theo cách chân thật nhất.

Một người như thế là một người không chỉ có tự do, mà còn rất tỉnh thức, với những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, và với cả cách thức mà mình đang đi qua cuộc sống này. Nói cách khác, người đó đã trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” và “Ta sẽ làm gì với cuộc đời mình?”, và luôn tỉnh thức để có được sự trở thành nhất quán với các câu trả lời đó.

Một người như thế là một người lịch lãm tinh thông trong việc sống. Do tinh thông việc sống như thế, người đó sẽ có được bình an từ bên trong, luôn làm chủ bản thân và làm chủ cách đón tình huống mà mình đang đối mặt, theo cách tự nhiên và hiệu quả.
Tự do kiến tạo
Một biểu hiện quan trọng khác của con người tự do là ở khả năng tự do kiến tạo. Tự do kiến tạo cũng là điều kiện cần thiết cho một cuộc sống tự do đích thực và có ý nghĩa không chỉ với bản thân mà còn với xã hội.

Để có được tự do kiến tạo, trước hết một người phải có khả năng kiến tạo trong tâm trí mình điều mà họ mong muốn. Muốn vậy, trước hết phải có tự do tư tưởng, nếu không người đó sẽ mắc kẹt vào những điều đã biết và không có khả năng kiến tạo ra cái gì mới.

Sau đó, người ấy phải có tự do lựa chọn để có khả năng chuyển những điều mình đã kiến tạo trong tâm trí ra bên ngoài thông qua lựa chọn. Nhưng sau khi đã lựa chọn rồi, để không bỏ cuộc khi gặp khó khăn và cam kết với sứ mệnh mình đã đặt ra, người đó phải có khả năng thấu hiểu những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, làm chủ sự trở thành của mình, tức làm chủ diễn tiến của cuộc đời mình, trong tự do và thấu hiểu.

Nhận thức của mỗi người có được là do trải nghiệm ở trong quá khứ của cá nhân người đó, vì thế để có được tự do kiến tạo, thì một người phải thấu hiểu các giới hạn do quá khứ mang lại, và sẵn lòng vượt thoát khỏi quá khứ để kiến tạo cái mới.
Ngoài ra, để hiện thực hóa một sự kiến tạo xứng đáng thường bao giờ cũng đòi hỏi nguồn lực và sự tham gia của nhiều hơn một người . Điều này đòi hỏi ở mỗi người năng lực phối hợp làm việc cùng người khác. Do đó, những kỹ năng như làm việc nhóm, tư duy phê phán, chung sống trong sự đa dạng, tôn trọng sự khác biệt, cân bằng và điều phối lợi ích, thỏa hiệp để đạt đồng thuận… trở thành những yêu cầu bắt buộc.

Chỉ khi có được tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành, khả năng vượt qua được những giới hạn trong nhận thức của mình, và khả năng phối hợp làm việc cùng người khác trong một tâm thế chủ động, một người mới có được tự do kiến tạo để tạo ra một điều gì đó xứng đáng, quan trọng nhất là kiến tạo chính cuộc đời mình và mang lại cho nó một giá trị, một ý nghĩa, trong suốt hành trình sống.

Đến đây, hẳn bạn đã nhìn ra câu trả lời cho câu hỏi: Học để làm gì?

Với tôi, học là để trở thành con người tự do. Và tôi luôn nhất quán với câu trả lời xuyên suốt đó

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

Những cánh chim cuối đàn

GIÁP VĂN DƯƠNG

Tranh ghép gốm của họa sĩ Lê Thiết Cương

Chính thị trường và sự cạnh tranh lành mạnh sẽ quyết định đâu là những cánh chim đầu đàn, chứ không phải sự ưu ái của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước chỉ nên tập trung cho những cánh chim cuối đàn, thông qua việc đảm bảo một mức sàn tối thiểu chung, và nâng cấp mức sàn này mỗi khi nguồn lực tăng thêm.

Chính thị trường và sự cạnh tranh lành mạnh sẽ quyết định đâu là những cánh chim đầu đàn, chứ không phải sự ưu ái của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước chỉ nên tập trung cho những cánh chim cuối đàn, thông qua việc đảm bảo một mức sàn tối thiểu chung, và nâng cấp mức sàn này mỗi khi nguồn lực tăng thêm.

Những ngày này, thế giới vẫn chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của cơn địa chấn chính trị: Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ, bất chấp sự phản đối ra mặt của truyền thông chính thống, và phần lớn giới học giả tinh hoa trong suốt hành trình chạy đua vào Nhà Trắng.

Sự kiện này làm cả thế giới phấp phỏng, vì chủ nghĩa dân tộc thể hiện qua chiến dịch tranh cử và cách hành xử khó đoán định của Donald Trump, có thể gây ảnh hưởng lớn đến thế giới.

Lý do vì sao Trump thắng cuộc đã được cả thế giới mang ra mổ xẻ, trong đó nổi bật nhất là quy việc chiến thắng của Trump cho sự ủng hộ của nhóm người Mỹ bị bỏ rơi trong nền kinh tế toàn cầu hóa. Họ là những người chịu thiệt ở trong lòng nước Mỹ, nên đã ủng hộ Trump với chính sách “Nước Mỹ trên hết” và khẩu hiệu tranh cử “làm cho nước Mỹ vĩ đại một lần nữa”.

Họ được ví như những con chim cuối đàn của cả một đàn chim. Nhưng chính họ, những con chim cuối đàn đó, đã quyết định hướng đi của nước Mỹ trong những năm tới, chứ không phải là giới tinh hoa hay truyền thông chính thống, tạm được hiểu như những con chim đầu đàn trong cả đàn chim nước Mỹ.

Câu chuyện về ảnh hưởng của một nhóm đi sau đến chuyển hướng chiến lược của một quốc gia, trong hành động hoặc nhận thức, không chỉ dừng ở ví dụ trên, mà còn xuất hiện ở khắp mọi nơi, trong đó có Việt Nam.

Sự kết nối dày đặc trong xã hội, nhờ thông tin và hệ thống giao thông, đã làm cho một sự kiện xảy ra một bất cứ đâu trong một quốc gia, cũng có khả năng ảnh hưởng đến đời sống chung của toàn xã hội.

Cuối đàn có gây ảnh hưởng?

Tôi đã có một thời gian dài nghĩ rằng, sự phát triển của xã hội được quyết định bởi nhóm tinh hoa dẫn dắt. Nói một cách hình ảnh thì đó là: Những con chim đầu đàn sẽ quyết định tốc độ và hướng bay của cả đàn chim.

Nhận thức này hiển nhiên đến mức không cần phải chất vấn lại. Trong số những người tôi quen biết, cũng không thấy ai đặt lại vấn đề này.

Tuy nhiên, những trải nghiệm thực tế làm tôi ngày càng nhận ra rằng: Những con chim đầu đàn sẽ lạc lõng, thậm chí lạc lối, nếu tách khỏi những con chim cuối đàn. Và phản ứng của những con cuối đàn cũng đóng vai trò quan trọng như những con đầu đàn trong việc quyết định hướng bay và tốc độ của cả đàn chim.

Với xã hội, câu chuyện cũng diễn ra tương tự. Cuộc sống và cách thức phản ứng của những nhóm chịu thua thiệt, tức những con chim cuối đàn, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra ổn định và phát triển chung cho cả xã hội.

Có thể thấy rõ điều này trong một câu chuyện nhãn tiền: Trong khi đóng góp của những người được coi là thuộc nhóm tinh hoa vào việc thúc đẩy văn hóa chưa rõ được bao nhiêu, thì chỉ cần một vài người Việt ăn cắp ở nước ngoài, hay một nhóm nhỏ hành hung du khách trên đất Việt, thì cũng đủ sức kéo tụt vị trí của Việt Nam trong thang bậc văn minh của thế giới.

Rộng hơn, nếu như hàng ngàn nhà khoa học chưa chắc đã thúc đẩy được sự tiến bộ của xã hội được bao nhiêu, thì chỉ cần sự xuất hiện của vài kẻ khủng bố cũng có thể gây náo loạn, thậm chí kéo lùi, cho toàn xã hội cả chục năm. Trong trường hợp này, rõ ràng những con chim bay cuối đàn đang chi phối hướng bay và tốc độ của cả đàn chim.

Sở dĩ có chuyện như vậy là vì trong xã hội hiện đại dày đặc liên thông và kết nối này, mỗi người đều tồn tại và hiện hữu trong sự tương thuộc với những người khác. Thông qua vô vàn kết nối, chuyển động của bất cứ con chim nào, dù ở đầu hay cuối đàn, cũng có khả năng tác động đến số phận của cả đàn chim.

Đây là một sự chuyển đổi nhận thức có ảnh hưởng quan trọng trong việc ban hành các chính sách về quốc kế dân sinh, đặc biệt trong việc sử dụng ngân sách nhà nước.

Ngân sách, thay vì tập trung cho những con chim đầu đàn, với hy vọng họ sẽ trở trành lực lượng dẫn dắt, thì sẽ hiệu quả hơn nếu dành cho những con chim đang bay ở cuối đàn.

Ví dụ thứ nhất, trong kinh tế, các công ty nhà nước, trên mọi văn bản, vẫn đang được coi là xương sống của nền kinh tế, tức những cánh chim dẫn dắt, nên được hưởng nhiều ưu ái về đầu tư, từ đất đai đến tiếp cận tài chính. Trong khi đó, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì hầu như không được ưu đãi gì. Tuy nhiên, đóng góp của những đầu đàn này không đáng kể gì, cả trong hiệu quả kinh doanh lẫn tạo công ăn việc làm. Còn chính tốc độ phát triển của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tức những cánh chim hiện đang ở cuối đàn này, sẽ quyết định sự phát triển của nền kinh tế.

Ví dụ thứ hai là về giáo dục, với đề án 911, với kế hoạch đào tào tạo 10.000 tiến sĩ ở nước ngoài và kinh phí dự kiến 14.000 tỉ đồng cho giai đoạn 2010 - 2020.

Giả sử phần ngân sách này để đầu tư giáo dục cho người nghèo, cho vùng sâu vùng xa, thì hiệu quả chung tính cho toàn xã hội có tăng lên?

Cũng giống như chính sách ưu đãi cho những “quả đấm thép” trong kinh tế, cơ sở sâu xa của các đề án này vẫn là quan niệm: Đầu tư cho nhóm tinh hoa dẫn dắt thì hiệu quả sẽ cao hơn.

Nói một cách hình ảnh, những đề án như thế này được xây dựng dựa trên một quan niệm: Những con đầu đàn sẽ quyết định tốc độ bay của cả đàn chim.

Nhưng sự thật có phải là như vậy?

Cần một nhìn nhận mới

Thay vì đầu tư cho những con chim đầu đàn này, hãy dành phần ngân sách đó để hỗ trợ những con chim cuối đàn, tức những người đang gặp khó khăn trong tiếp cận giáo dục, thì có thể hiệu quả đầu tư sẽ cao hơn nếu xét cho toàn xã hội.

Đầu tư cho những cánh chim cuối đàn, thay vì những cánh chim đầu đàn, cũng phù hợp với các lý thuyết về đầu tư rằng, khi trình độ phát triển còn ở mức thấp, thì với cùng một suất đầu tư, tốc độ phát triển sẽ cao hơn so với khi trình độ đã ở mức cao, tức hiệu quả chung sẽ cao hơn nếu đầu tư cho những con chim cuối đàn.

Ngoài ra, nếu dành quan tâm đến những con chim cuối đàn như vậy, tính nhân văn, sự đoàn kết và tinh thần tương thân tương ái, những giá trị không thể quy đổi thành tiền, sẽ được đảm bảo tốt hơn. Sự công bằng trong phân bổ nguồn lực cũng cao hơn, vì một sự thật không thể phủ nhận, những con chim cuối đàn, do vị trí của mình, bao giờ cũng thiệt thòi trong việc tiếp cận thông tin và nguồn lực chung.

Đến đây, xuất hiện một câu hỏi: Như vậy, có phải đó cũng là một sự bất công với những cánh chim đầu đàn?

Câu trả lời đơn giản là không. Những cánh chim đầu đàn thực sự sẽ phải tự khẳng định vị trí của mình bằng khả năng tự vươn lên, chứ không phải thông qua các ưu đãi từ ngân sách, vốn dĩ luôn hạn hẹp.

Việc đầu tư cho các cánh chim đầu đần này, hãy để cho thị trường thực hiện. Chính thị trường và sự cạnh tranh lành mạnh sẽ quyết định đâu là những cánh chim đầu đàn, chứ không phải sự ưu ái của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước chỉ nên tập trung cho những cánh chim cuối đàn, thông qua việc đảm bảo một mức sàn tối thiểu chung, và nâng cấp mức sàn này mỗi khi nguồn lực tăng thêm. Còn mức trần, hãy để cho thị trường quyết định.

Vì một thực tế không thể phủ nhận, những con chim cuối đàn đang ngày càng có vai trò lớn hơn trong việc quyết định hướng bay và tốc độ của cả đàn chim, vì thế cần được quan tâm đúng mức, nếu muốn giữ thế cân bằng sự phát triển bền vững của cả đàn chim.
---
Bài đã đăng báo Lao Động, số Tết 2017.

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

Chỉ cần hiểu trẻ, yêu trẻ và làm gương cho trẻ

Việc điều chuyển 26.000 giáo viên dư dôi xuống dạy mầm non được coi là tâm điểm của giáo dục năm 2017. Tuy nhiên, việc điều chuyển đó thực hiện như thế nào để tránh những hệ lụy không đáng có đến một đối tượng nhạy cảm và dễ tổn thương nhất trong xã hội, các em mầm non.

Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Tiến sĩ Giáp Văn Dương, người sáng lập trường học trực tuyến Giapschool về vấn đề này.
- Tại Hội nghị sơ kết học kỳ 1 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, một vấn đề được quan tâm và được coi là tâm điểm của giáo dục năm 2017 là việc dư dôi 26.000 giáo viên sư phạm. Bộ đã đưa ra giải pháp điều chuyển các giáo viên này xuống dạy mầm non thông qua việc học văn bằng 2 - chương trình do ĐH Sư phạm Hà Nội thiết kế. Theo ông, đây có phải là giải pháp hiệu quả và thiết thực?
+ Ái chà! Chị cho tôi thở sâu một cái rồi hãy nói. Vì tôi biết, với sự việc như thế này, nói thế nào cũng gặp phải ý kiến trái chiều. Vì thế, tôi muốn trao đổi thật thong thả, từng bước một thì may ra mới tìm được điều gì có ý nghĩa.
Thứ nhất, việc 26.000 cử nhân sư phạm thất nghiệp là có thật. Giải quyết công ăn việc làm cho các cử nhân này có một phần trách nhiệm của Bộ Giáo dục và các trường đại học sư phạm. Vì thế, Bộ tìm giải pháp để giải quyết bài toán này là phù hợp. Thứ hai, việc thiếu giáo viên mầm non cũng là có thật.
Theo báo cáo cũng trong hội nghị này, hiện cả nước thiếu khoảng 32.000 giáo viên mầm non. Vì thế, mới có cái giải pháp đào tạo lại và điều chuyển các giáo viên thừa này xuống bậc mầm non để giảng dạy, thông qua việc học văn bằng hai, do ĐH Sư phạm Hà Nội thiết kế.
Vấn đề đặt ra: Liệu có thể cắt chỗ thừa đập vào chỗ thiếu theo cách cơ học như vậy được không? Liệu việc này có ảnh hưởng gì đến chất lượng giáo viên mầm non, nơi đón nhận những giáo viên thừa này?
Rõ ràng đây là bài toán của thị trường lao động. Một cách lý tưởng, thị trường sẽ tự điều chỉnh theo luật cung-cầu. Nhưng do lao động giáo dục quá đặc thù, chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước nên mới phát sinh chuyện thảo luận này, chứ nếu không thì chúng ta chỉ cần nói ngắn gọn: Hãy để thị trường tự điều chỉnh.
Giờ chúng ta nhìn một góc khác: Giả sử không có chuyện điều chỉnh này thì sao? Rõ ràng, thiếu giáo viên bậc mầm non là không tốt, cần phải bù đắp. Nhưng bù đắp bằng cách nào?
Chỉ có hai cách cơ bản: hoặc là đào tạo mới, tuyển các em học sinh mới tốt nghiệp THPT, đào tạo qua bậc trung cấp 2 năm và trở thành giáo viên mầm non, hoặc là đào tạo lại số giáo viên thừa ở bậc trên, theo chuẩn mực của chương trình giáo dục mầm non, rồi điều chuyển để bù đắp.
Ta thử hình dung: nếu theo cách thứ nhất, một học sinh tốt nghiệp THPT 18-19 tuổi, học 2 năm trung cấp để trở thành giáo viên mầm non khi 20-21 tuổi, thường chưa có gia đình; còn theo cách thứ hai, một giáo viên dôi dư, giả sử là 30-40 tuổi, cũng đào tạo lại 2 năm để trở thành giáo viên mầm non thì chất lượng của hai giáo viên này như thế nào? Bên nào tốt, bên nào dở?
Nếu tôi là hiệu trưởng trường mầm non, tôi sẽ không kết luận ngay là một giáo viên trẻ măng, 20-21 tuổi sẽ tốt hơn một giáo viên được đào tạo lại. Giáo viên trẻ thì được chuẩn hóa từ sớm, dễ uốn nắn vào quy trình, nhưng thiếu kinh nghiệm sống, nhiều khi dạy mình còn chưa xong. Giáo viên có tuổi có trải nghiệm sống, thường đã có gia đình và có con nên có kinh nghiệm chăm sóc trẻ nhỏ, nhưng thường bảo thủ, ngại học cái mới. Vậy tôi sẽ chọn ai?
Dân gian đúc kết: "Thầy già, con hát trẻ". Nhưng không vì thế mà tôi chọn giáo viên có tuổi. Tôi sẽ phỏng vấn trực tiếp để lựa chọn. Với tôi, phẩm chất quan trọng nhất của giáo viên mầm non là thấu hiểu và yêu thương trẻ nhỏ. Mà điều này phụ thuộc nhiều hơn vào tính cách cá nhân chứ không phải do đào tạo mới hay đào tạo lại.
Như vậy lại xuất hiện trở lại bài toán thị trường lao động. Nếu khối trường tư thục, hãy để thị trường quyết định. Còn với trường công, vì chưa có nghiên cứu nào chỉ ra sự khác biệt nên theo tôi cứ cho thử nghiệm đào tạo lại và điều chuyển. Bộ có trách nhiệm kiểm tra chất lượng, thấy tốt thì triển khai rộng, thấy không tốt thì dừng lại. Tất nhiên tiến hành trên cơ sở tự nguyện của giáo viên.
- Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - bà Nguyễn Thị Nghĩa - khẳng định việc điều chuyển giáo viên thừa căn cứ trên tinh thần tự nguyện của các thầy cô. Đây là giải pháp tình thế mà Bộ bắt buộc phải đưa ra để giải quyết hậu quả của việc đào tạo và tuyển dụng giáo viên ồ ạt, thiếu tính toán ở một số địa phương. Liệu điều đó có tạo ra tiêu cực trong ngành Giáo dục?
+ Phân bổ lao động bao giờ cũng chịu ảnh hưởng của quy luật thị trường lao động. Mà đã như vậy thì tất nhiên phải trên tinh thần tự nguyện, vì không ai có quyền ép anh phải làm việc anh không muốn.
Nếu anh muốn thì hãy tham gia chương trình thí điểm, không thì thôi, tìm việc khác để làm. Điều này rất bình thường. Còn liệu nó có tạo ra tiêu cực trong giáo dục hay không thì tôi không biết, không đoán mò được.
Nhưng tôi có thể hỏi ngược lại: Giả sử không làm gì khác, cứ để số giáo viên thừa ngồi đó vất vưởng, còn số giáo viên thiếu không tìm cách bù đắp thì có phải cũng là một thứ tiêu cực trong giáo dục hay không? Vậy theo tôi là cứ cho thí điểm. Nhưng kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, có nghiên cứu tổng kết đàng hoàng, minh bạch, trước khi nhân rộng.
- Đây được coi là một cuộc điều chuyển lớn nhất từ trước đến nay. Hệ lụy của nó sẽ là gì thưa ông, vì đặc thù của giáo viên mầm non sẽ rất khác và những sai lệch sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến đối tượng nhạy cảm và dễ tổn thương nhất là các em?
+ Tôi chỉ sợ điều chuyển cơ học để lấy thành tích. Còn điều chuyển sau khi thí điểm, có đào tạo lại bài bản, kiểm soát tốt chất lượng, thì không đáng ngại. Không có lý do gì để cho rằng học một chuyên ngành khác rồi chuyển qua học làm giáo viên mầm non thì sẽ kém đi.
Giả sử nếu có một bác sĩ chuyển qua học giáo dục mầm non rồi dạy con tôi, tôi hoàn toàn ủng hộ. Một kỹ sư xây dựng học giáo dục mầm non rồi dạy con tôi, tôi hoan nghênh. Một luật sư chuyển qua học giáo dục mầm non rồi dạy con tôi, tôi chào đón.
Miễn là những người này đáp ứng được những tiêu chí rất đơn giản: hiểu con tôi, yêu thương con tôi và có thể làm gương cho con tôi trong lối sống. Chính những giáo viên như vậy sẽ làm phong phú hơn cho môi trường giáo dục mầm non.
Theo quan sát của tôi, sư phạm mầm non đang bị biến dạng và bất bình đẳng kinh khủng, khi toàn bộ giáo viên là nữ, lại tròn trịa na ná như nhau. Cái đó không giống như cuộc đời thực, có nam có nữ, có nhiều ngành nghề, có nhiều lĩnh vực, phong phú đa dạng hơn rất nhiều.
Với tôi, giáo viên mầm non tốt nhất là người đáp ứng được mấy tiêu chí cơ bản: hiểu trẻ, yêu trẻ và làm gương cho trẻ trong sinh hoạt. Hiểu trẻ thì có thể đào tạo qua trường lớp và kinh nghiệm cá nhân. Yêu trẻ thì phần nhiều do cá tính. Còn làm gương được cho trẻ hay không là do lối sống của người đó có lành mạnh hay không. 
- Thực tế cho thấy, hầu hết giáo viên mầm non có trình độ trung cấp hoặc cao đẳng làm việc khá tốt. Với bản chất việc làm chỉ cần trình độ như thế thì không nhất thiết đào tạo đại học, vừa lãng phí, vừa phi logic. Theo ông, có giải pháp nào khả quan nhất cho vấn đề thừa giáo viên không?
+ Hầu hết các nước đòi hỏi giáo viên mầm non phải có bằng cử nhân giáo dục học. Nhiều nơi đòi hỏi bằng thạc sĩ. Vậy không có lý do gì để đóng khung giáo viên mầm non vào trình độ trung cấp hai năm. Tôi không nghĩ học nhiều, có nhiều kiến thức thì sẽ kém đi trong việc hiểu trẻ, yêu thương trẻ hoặc làm gương cho trẻ.
Tôi thậm chí còn cho rằng, giáo viên mầm non nên được đa dạng hóa tối đa, có nền tảng từ nhiều ngành nghề khác nhau, tuổi tác khác nhau, phông nền văn hóa khác nhau, vì như thế mới là cuộc sống. Như thế mới giúp các con chạm được đến cuộc sống thực sự từ khi còn rất nhỏ.
Ngay việc tất cả giáo viên mầm non đều là nữ, tôi đã thấy là vấn đề. Thực tế, tôi muốn có giáo viên nam trong trường mầm non, để con tôi có được cân bằng về giới tính trong việc học và sống ở trường mầm non.
- Nhiều ý kiến cũng cho rằng, giáo viên thừa vẫn thừa, nhưng thiếu vẫn thiếu, thiếu những giáo viên giỏi và tâm huyết. Điều đó, lỗi một phần có phải từ công tác đào tạo?
+ Đây là vấn đề của bản thân người học, khi chọn ngành chọn nghề mà không quan tâm đến thị trường. Đây cũng là vấn đề của cơ sở đào tạo, khi chỉ đào tạo ra những giáo viên không đạt chất lượng, cũng không biết làm gì khác ngoài nghề dạy học. Nhưng rộng hơn, đó là vấn đề của thị trường lao động.
- Ông nói đúng, từ câu chuyện thừa nhân lực cử nhân sư phạm và cách giải quyết vấn đề của Bộ Giáo dục và đào tạo, theo ông, đã đến lúc Bộ cần có những giải pháp thế nào về vấn đề tuyển sinh ngành sư phạm? Liệu có nên dừng tuyển sinh hay không?
+ Tôi cho rằng đây là vấn đề của thị trường lao động. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ cần minh bạch thông tin về thị trường lao động giáo dục, tình trạng thừa thiếu lao động ra sao, đưa ra các dự báo và các chỉ tiêu tuyển sinh không vượt quá nhiều so với nhu cầu để thí sinh tham khảo. Phần còn lại sẽ do thí sinh lựa chọn.
Ngoài ra, các cơ sở giáo dục cũng cần đào tạo sao cho khi thất nghiệp thì các thầy cô phải có đủ kiến thức và kỹ năng làm việc gì đó để sống. Bản thân tôi cũng không muốn con mình học những thầy cô như vậy. Nếu thầy cô không có khả năng thu xếp cuộc sống cho mình, tự tìm ra việc gì đó để làm khi thất nghiệp thì con tôi sẽ học được gì từ những người như vậy?
Trẻ mầm non cũng sẽ chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc điều chuyển giáo viên này.
- Với cách tuyển sinh năm nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì trong thời gian tới, tỷ lệ thất nghiệp của cử nhân thạc sĩ còn tăng cao hơn vì vào đại học không quá khó. Chúng ta cần có định hướng như thế nào từ gốc khi cả nước thừa cử nhân thạc sĩ mà vẫn thiếu thợ giỏi, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao?
+ Như tôi đã nói, đây trước hết là vấn đề của thị trường lao động và rộng hơn là vấn đề của nền kinh tế. Các cơ quan quản lý chỉ cần minh bạch thông tin về nhu cầu ngành nghề, nói thẳng nói thật cho thí sinh biết mọi thông tin liên quan để quyết định. Sau đó là chất lượng đào tạo.
Các trường phải đào tạo sao cho người học có kỹ năng lãnh đạo bản thân, tự tổ chức cuộc sống của mình, tự tìm việc khi thất nghiệp hoặc khởi nghiệp để tạo ra thêm công ăn việc làm mới, chứ không phải thầy thì dạy cho xong, trò thì học cho qua rồi ra trường thất nghiệp nằm đó kêu trời.
- Với chính sách hiện nay, chúng ta gần như đang đi đến phổ cập đại học, rõ ràng điều này sẽ dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực và vật chất của toàn xã hội. Nhưng dường như Bộ Giáo dục và Đào tạo đang "mắt nhắm mắt mở" trong câu chuyện này. Cá nhân ông có giải pháp gì cho vấn đề này không?
+ Phổ cập đại học đang là một xu thế. Trong nền kinh tế tri thức thì đây là điều dễ hiểu và cũng chẳng có gì xấu nếu chất lượng giáo dục đại học được đảm bảo. Tỷ lệ người học đại học ở Việt Nam vẫn còn kém xa các nước phát triển, đặc biệt các nước ở khu vực châu Á.
Chẳng hạn, khoảng 80% học sinh tốt nghiệp THPT của Hàn Quốc sẽ vào đại học. Vì thế, thời gian tới, phổ cập đại học sẽ là xu hướng tất yếu ở Việt Nam và theo đó, số người tốt nghiệp đại học thất nghiệp sẽ tăng lên. Thất nghiệp là vấn đề của nền kinh tế, cụ thể là nền kinh tế có đủ tạo ra số công ăn việc làm tương ứng hay không, chứ không chỉ đơn thuần của đại học.
Giải pháp cho thất nghiệp thì đòi hỏi những chính sách vĩ mô. Nhưng trong lúc chờ đợi thì người trẻ phải tự cứu mình trước, bằng cách học hỏi không ngừng kiến thức và kỹ năng làm việc, chinh phục thị trường lao động trong và ngoài nước và tốt hơn là có thể khởi nghiệp để tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Đó cũng là lý do mà tuần trước chúng tôi cho ra đời Học viện Khởi nghiệp để đào tạo những người có khả năng làm chủ, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội.
- Cảm ơn cuộc trò chuyện của ông.
Việt Hà (thực hiện)

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Không gây hại!

Giáp Văn Dương

Đối với nghề giáo, tôi là một người vừa trong cuộc vừa ngoài cuộc. Ngoài cuộc vì giờ tôi không thuộc biên chế của trường công chính quy nào. Trong cuộc vì tôi đến nay vẫn đang đứng trên bục giảng. Trong thâm tâm, tôi vẫn tự coi mình là một nhà giáo trước khi là bất cứ một người nào khác. Giáo dục, rộng hơn là mở mang tri thức và phát triển con người, vẫn là công việc mà tôi đang theo đuổi hàng ngày.

Vậy nên, mỗi khi có dịp thảnh thơi thì tôi đều dành một khoảng thời gian tĩnh lặng để suy ngẫm về công việc mà mình đang theo đuổi, về những quy tắc mà nó chịu ràng buộc, và những giới hạn mà người làm nghề dạy học không được phép vượt qua.

Đã từ lâu tôi luôn nhắc các học viên của mình, trong đó có nhiêu người đang làm nghề dạy học và đạo tạo rằng: Làm giáo dục, làm đào tạo, tiêu chí đầu tiên của đạo đức nghề nghiệp là KHÔNG GÂY HẠI!

Không gây hại ư!? Tại sao lại là không gây hại?

Người làm nghề dạy học chỉ nói lời hay lẽ phải. Ngoài dạy kiến thức, các thầy cô còn dạy làm người. Toàn những thứ thiện lành như thế, sao lại có thể gây hại cho học trò, những người mình hết mực thương yêu được cơ chứ?

Vậy nhắc nhở các thầy cô không gây hại có phải là chuyện lẩm cẩm, hay là quá khắt khe với các thầy cô?

Câu trả lời là không lẩm cẩm, cũng không khắt khe. Theo quan sát của cá nhân tôi, trong nền giáo dục còn nhiều bất cập này, thì để không gây hại với học trò của mình, nhà giáo cần một sự thức tỉnh và một lòng quả cảm dài hơi.

Nếu không, rất có thể nhà giáo sẽ gây hại cho chính học trò của mình mà không biết, hoặc nếu có biết thì cũng “nhắm mắt đưa chân” cho xong việc, cho dễ dàng và bớt phiền toái.

Còn nhớ, khi tôi học cấp ba, lần đầu tiên được nghe cô giáo của tôi nói “nhà giáo là kỹ sư tâm hồn”. Mắt cô sáng long lanh. Giọng cô đầy tự hào. Tôi cũng tự hào theo cô. Mắt tôi cũng sáng long lanh như mắt cô vậy.

Bốn chữ “kỹ sư tâm hồn” đã trở thành một sự thật hiển nhiên về nghề giáo. Tôi mặc nhiên chấp nhận và không mảy may chất vấn tính chính đáng và sự phức tạp ẩn chứa phía sau bốn chữ “kỹ sư tâm hồn” này.

Tôi cũng không hề chất vấn xem “kỹ sư” là gì, “tâm hồn” là gì, và “kỹ sư tâm hồn” có nghĩa là gì?

Rộng hơn, tôi hiểu rằng nghề giáo là nghề dạy làm người, và các thầy cô của tôi cũng hiểu như vậy. Tuy nhiên, tôi tự hỏi trong số tất cả những người tôi đã từng gặp, thực sự có bao nhiêu người từng nghiêm túc suy nghiệm về “Người là gì?” và “Dạy làm người là dạy cái gì?”.

Khi bản thân mỗi người trong số thầy cô, học trò, và cả những người lên chương trình học tập cho thầy và trò, không tự trả lời những câu hỏi căn cốt này, thì hiển nhiên tất đều chỉ đi qua phần việc của mình trong sự hiển-nhiên-đờ-đẫn.

Chỉ đến khi tôi ra trường, 22 tuổi - ở lại trường làm giảng viên - trẻ măng - ngơ ngác trước cuộc đời - tôi mới giật mình thảng thốt: Ngoài mớ kiến thức từ trong sách vở, ngoài cuốn giáo trình và những bài tập tôi gần như đã thuộc nằm lòng, tôi lấy tư cách gì để dẫn dắt cuộc đời của những bạn trẻ dưới kia, khi trải nghiệm của tôi còn ít ỏi, nhận thức của tôi còn non nớt, bản thân tôi còn hoang mang về con đường phía trước?

Tôi hiểu gì về đời và người để dẫn dắt con người đi trong cuộc đời?

Mà nếu như tôi đã không thấu hiểu việc tôi làm như thế, tôi cũng đang mò mẫm trên đường đời như thế, thì sự dẫn dắt của tôi có gây hại cho các học trò của tôi không?

Lúc đó, bốn chữ “kỹ sư tâm hồn” lại vang lên như một bám víu. Tôi hoàn toàn có thể bình thản làm công việc của mình như bao người khác, tự đánh bóng nghề nghiệp của mình lên thành nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, và thầm gọi tên công việc của mình là “kỹ sư tâm hồn” trong sự kiêu hãnh ngầm và tinh tế ngôn từ.

Nhưng sự mù mờ một khi đã nhận ra sẽ trở thành một nỗi ám ảnh, không thể thoát ra nếu chưa làm sáng tỏ nó.

Càng ngẫm, càng nghĩ, càng quan sát, càng trải nghiệm, tôi càng hoang mang và thấy công việc của mình quá sức. Tôi hiểu gì về người mà dạy người khác làm người? Tôi lấy tư cách gì để đào luyện tâm hồn của người khác, khi tôi chưa thấu hiểu bản thân, và chưa đào luyện được tâm hồn của chính mình?

Đó là lý do tôi tạm dừng việc giảng dạy để đi du học. Trước hết để hiểu mình, sau đó để hiểu đời, hiểu cuộc sống ngoài kia. Hành trình đó kéo dài 13 năm, cho đến khi tôi trở về.

Hành trình học hỏi và tra vấn kéo dài đó, cộng với những trải nghiệm trong cuộc sống, giúp tôi hiểu ra một điều giản dị rằng, nếu đã làm nghề giáo thì phải rất cẩn trọng khi thiết kế và xây dựng tâm hồn cho người khác, tức đừng vội vàng nhận mình là “kỹ sư tâm hồn” kẻo gây hại cho lớp trẻ mà không hay biết.

Kỹ sư tâm hồn… Đó là công việc quá ư khó khăn, quá ư tinh tế, và quá sức của môt người, vì phần lớn những người thiết kế và xây dựng tâm hồn cho kẻ khác đều vẫn còn đang mò mẫm để xây dựng tâm hồn của chính mình.

Bản thân không ít những người làm giáo dục vẫn đang mò mẫm trong bóng tối, còn chưa tìm được đường ra, còn đầy rẫy bế tắc, còn hoang mang trước cuộc đời, còn khắc khoải tìm câu trả lời những câu hỏi cơ bản: “Tôi là ai?”, “Cuộc sống này có ý nghĩa gì?”… Nhưng chính họ cũng là người gánh vác trách nhiệm dẫn dắt một đoàn người trẻ khác, cũng đang mò mẫm trong bóng như mình, hoặc bị mình vô tình lôi vào bóng tối, tìm cách đi về phía ánh sáng, ở đâu đó chưa biết, nhân danh giáo dục

Trong sự mò mẫm và hoang hoải đó, điều hiển nhiên các “kỹ sư tâm hồn” sẽ làm là bám thật chặt sách giáo khoa. Nhưng có ai đảm bảo những người biên soạn sách giáo khoa đó cũng thấu hiểu tâm hồn mình, và cũng có một tâm hồn trong sáng để chỉ huy việc xây dựng tâm hồn người khác?

Vì phải bám víu vào sách giáo khoa, nên sách giáo khoa thay vì chỉ là công cụ, nay trở thành chủ nhân uy quyền tuyệt đối. Nhưng khi người ta còn ở trong bóng tối, nắm thật chặt cây gậy không đảm bảo rằng ta sẽ đi ra ánh sáng. Nắm chặt quá, lại tự tin vung vít, có thể gây sát thương với chính mình và những người mình dẫn dắt.

Bám chặt cây gậy và những chỉ đạo rập khuôn từ trên xuống, khi đó cũng chỉ để cho mình đỡ sợ như người hát thật to khi đi qua bãi tha ma, hoặc để né tránh trách nhiệm lẽ ra ta phải gánh vác, chứ không giúp ta hoàn thành sứ mệnh cao quý của một kỹ sư tâm hồn.

Bức tranh màu xám ấy chỉ chấm dứt khi phần lớn những người làm giáo dục có một sự tỉnh thức và kiên trì một nguyên tắc dẫn đường: Không gây hại!

Bất cứ khi nào có cảm giác rằng lời nói của mình, hành vi của mình, quan điểm của mình có thể gây hại cho lớp trẻ, thì phải giật mình dừng lại để suy xét và kiểm chứng.

Muốn vậy, nhà giáo phải chân thật lắng nghe lương tâm mình, lắng nghe sự mách bảo từ trong sâu thẳm của tâm hồn mình, chân thành quan sát và đón nhận những diễn biến vi tế trong đôi mắt trẻ, thì mới có thể nhận ra và không lạc lối.

Nếu không, dù yêu nghề và nhiệt tâm đến mấy, dù thuộc lòng cả bộ giáo trình và biết được vô vàn mẹo mực để giải những bài tập đánh đố, và tự hào gọi mình là những kỹ sư tâm hồn, gọi nghề của mình là nghề cao quý nhất trong số những nghề cao quý, thì rất có thể nhà giáo cũng đang gây hại mà không biết.

Thay vì bồi đắp những tâm hồn cao thượng, những con người tự do, nhà giáo lại chung tay tạo ra những tâm hồn méo mó u mê, những con robot được lập trình sẵn. Vì biết đâu, chính nhà giáo cũng đang là một người như thế.

Vì thế, trước mỗi thành tích của nhà giáo, chúng ta phải giật mình cẩn trọng. Trước khi tự hào là một giáo viên dạy giỏi, chúng ta phải giật mình nhìn xem trong một nền giáo dục còn nhiều bất cập như thế, “dạy giỏi” có nghĩa là gì?

Biết đâu, dạy càng “giỏi”, càng đúng theo sách, thì gây hại càng nhiều mà ta không hay biết?

Tiếc rằng, chưa có nghiên cứu định lượng nào về mối quan hệ giữa dạy giỏi và gây hại này. Nhưng một cách logic, khi một nền giáo dục sa đà vào bệnh thành tích ảo, thì việc anh dạy giỏi cũng đồng nghĩa với việc anh góp phần tạo ra nhiều thành tích ảo. Khi một chương trình hạn chế tự do tư tưởng và bóp nghẹt tính sáng tạo thì việc anh dạy giỏi cũng đồng nghĩa với việc anh hạn chế giỏi khả năng tự do tư tưởng và sáng tạo của người học.

Hiểu ra như thế, chúng ta sẽ thận trọng hơn trong việc cổ vũ những cuộc thi giáo viên dạy giỏi.

Vậy nên, đã chọn nghề giáo thì phải luôn giật mình: Không gây hại!

Nghề giáo trong lúc tranh tối tranh sáng lại càng phải giật mình: Không gây hại!

Giật mình để tỉnh thức.
---
Bài đã đăng trên Tia Sáng, Vietnamnet đăng lại.

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

Khởi nghiệp chính trị

  • GIÁP VĂN DƯƠNG
  • 26.01.2017, 04:28

Khởi nghiệp chính trị
Ảnh: Pinterest
Việt Nam không ngoại lệ trong trào lưu khởi nghiệp toàn cầu dấy lên vài năm gần đây. 2016 được chọn là Năm quốc gia khởi nghiệp. Làn gió mới đầy hứng khởi ấy tràn qua nhà nhà, người người với nhiều kỳ vọng lớn lao của cả người trong và ngoài cuộc.
Từ một hiện tượng
Nhưng nếu quan sát kỹ hơn, ta sẽ thấy phong trào khởi nghiệp này diễn ra chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh - công nghệ, luôn gắn với việc sử dụng công nghệ để tạo ra những sản phẩm mới, dịch vụ mới, hoặc những mô hình kinh doanh mới “nhanh - nhiều - tốt - rẻ” hơn so với các sản phẩm hoặc mô hình tương ứng đã có.
Khởi nghiệp mặc nhiên được coi là chuyện của giới kinh doanh - công nghệ. Cho đến khi ông Donald Trump xuất hiện...
Thành công của ông Trump trong kỳ bầu cử Mỹ vừa qua làm ta không khỏi liên tưởng đến phong trào khởi nghiệp đang dâng cao, chỉ có điều đây là khởi nghiệp trong lĩnh vực chính trị, chứ không phải trong lĩnh vực kinh doanh - công nghệ như thường thấy.
Ông ta đã tạo ra một cách thức vận động bầu cử rất riêng, nói theo ngôn ngữ của dân khởi nghiệp là tạo ra mô hình kinh doanh mới, hiệu quả hơn so với các mô hình đã có.
Một mình ông Trump chống lại cả giới truyền thông chính thống và giới học giả tinh hoa để cán đích, tương tự những công ty một người đương đầu với các đế chế kinh doanh khi khởi nghiệp.
Một mình ông Trump miệng nói tay tweet, làm điên đảo cả giới truyền thông Mỹ, đến mức có cảm giác cả cỗ máy truyền thông Mỹ đều chạy theo những dòng tweet đó mà vẫn bị hụt hơi...
Nhờ sử dụng các công cụ và công nghệ mới này, chiến dịch truyền thông của ông Trump trở nên vô cùng hiệu quả.
Big Data (khoa học dữ liệu lớn) cũng có ảnh hưởng quyết định đến chiến thắng của ông Trump. Chính các phân tích dữ liệu lớn của Công ty Cambridge Analytica đã giúp ông Trump có những thay đổi ngoạn mục trong vận động tranh cử của những ngày cuối, tức đến những bang không ai nghĩ ông Trump sẽ đến, để lật ngược thế cờ.
Cuộc bầu cử Mỹ vì thế còn là cuộc chiến của hai hình thức truyền thông và hai công ty phân tích dữ liệu lớn.
Sự đổi thay tất yếu
Các thể chế kinh tế - chính trị hiện thời được thiết kế để vận hành cho các xã hội công nghiệp và tiền công nghiệp. Nền giáo dục hiện thời cũng là nền giáo dục hướng đến phục vụ của xã hội công nghiệp. Khi thiết kế các thể chế đó, không ai nghĩ đến viễn cảnh cả thế giới kết nối với nhau 24/7.
Công nghệ ngày càng trở nên quan trọng, ảnh hưởng đến hành vi và lối sống của bất kỳ ai trên Trái đất này. Những công nghệ này vượt ra biên giới của các thể chế kinh tế - chính trị hiện thời.
Twitter và Facebook đã có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả bầu cử tổng thống Mỹ, khi cho phép các thông điệp tranh cử được chạy dưới dạng quảng cáo hướng mục tiêu một chương trình quảng cáo thương mại đơn thuần.
Điều này những nhà lập pháp Hoa Kỳ đã không hình dung đến. Nhờ vậy, ông Trump đã truyền tải được thông điệp của mình nhanh nhất và rẻ nhất đến những người ủng hộ tiềm năng.
Kết hợp với Big Data, chiến dịch truyền thông của ông Trump trên mạng xã hội càng hiệu quả khi cho phép cá nhân hóa các thông điệp truyền tải, gần như đến mức ai thích kiểu nào thì ông Trump chiều kiểu đó.
Sử dụng tư duy tiếp thị vào các chiến dịch chính trị tương tự như cuộc bầu cử này, một xu hướng mới trong vận động chính trị đã ra đời, đó là tiếp thị chính trị (political marketing). Nhưng đã là tiếp thị thì thế nào cũng gắn với kinh doanh.
Vậy phải chăng chính trị đã trở thành một ngành kinh doanh công khai? Nếu vậy, trong ngành kinh doanh này, công nghệ ngày càng giữ vai trò quan trọng.
Điều này dẫn đến việc các doanh nhân công nghệ, rộng hơn là các doanh nhân, ngày càng có ảnh hưởng lớn đến chính trường. Các chủ tịch và CEO của những tập đoàn lớn ngày càng hành xử giống các chính trị gia.
Nội các của ông Trump phần lớn là các triệu phú và tỉ phú. Ban cố vấn kinh tế của ông Trump có mặt rất nhiều CEO của các tập đoàn công nghệ hàng đầu nước Mỹ.
Sự xâm nhập của công nghệ vào chính trị ngày càng trở nên rõ ràng. Nhờ đó, việc sử dụng công nghệ để khởi nghiệp chính trị bỗng trở nên khả thi như trường hợp của ông Trump.
Khi sử dụng công nghệ, ngay cả những tin đồn, hoặc những tin tức không kiểm chứng có khả năng lây lan rất nhanh trên mạng xã hội, cũng là một nhân tố quan trọng cho một chiến dịch chính trị.
Việc cá nhân hóa thông điệp chính trị với sự hỗ trợ của Big Data và marketing bỗng trở thành khả thi. Khi đó, mỗi khách hàng chính trị sẽ có thông điệp chính trị mà họ muốn, do các chuyên gia chế biến và cá nhân hóa cho vừa khẩu vị.
Khi đó, chính những thuật toán phân tích và những máy tính được trang bị trí tuệ nhân tạo, những chuyên gia chế biến thông tin... là kẻ quyết định trong việc chọn ra người đứng đầu của một quốc gia, hoặc định hình cả một thể chế kinh tế chính trị - xã hội, chứ không phải những giá trị nhân văn hay những chính sách kinh tế - xã hội của các ứng viên.
Hiện còn quá sớm để nói đó là vinh hay họa, nhưng một sự thay đổi về cách thức chính trị vận hành là rõ ràng.
Vấn đề đặt ra: Nếu coi ông Donald Trump là một mô hình khởi nghiệp chính trị thì liệu mô hình này có lan ra khắp thế giới? Các thể chế kinh tế - chính trị hiện thời sẽ phải thay đổi ra sao với sự xuất hiện của hiện tượng khởi nghiệp chính trị, với vai trò ngày càng quan trọng của công nghệ này?
Liệu có một ngày chính những thuật toán của trí tuệ nhân tạo sẽ thay ta chọn ra người lãnh đạo và do đó là thể chế kinh tế - xã hội tương ứng? Và xa hơn, chúng ta phải sống thế nào trong một thời đại như thế?
Sẽ là quá sớm để đưa ra bất cứ câu trả lời nào vào thời điểm này. Nhưng có một điều chắc chắn thay đổi sẽ đến sớm, trong đó kinh doanh và công nghệ sẽ chi phối ngày càng lớn đến chính trị.
Chỉ có điều chưa biết được về dài hạn điều này là tốt hay xấu, là nâng đỡ con người hay hủy hoại con người. Nếu khởi nghiệp trong kinh doanh - công nghệ thất bại thì chỉ ảnh hưởng đến một nhóm người.
Còn khởi nghiệp chính trị thất bại thì ảnh hưởng đến một quốc gia. Sự xuất hiện của ông Trump là may mắn, hay tai họa cho nước Mỹ và rộng hơn là cho cả thế giới ta cũng chưa biết.
Dù kịch bản nào xảy ra đi chăng nữa thì chưa bao giờ nhân tính và các giá trị nhân văn trở nên quan trọng như bây giờ.
Thay đổi nào nuôi dưỡng nhân tính, bảo vệ nhân văn, phát triển con người sẽ được đón nhận như một cơ hội. Ngược lại, thay đổi hoặc không hề thay đổi, chống lại nhân tính, phá hủy nhân văn, chà đạp con người sẽ trở thành tai họa chung cho tất cả.■
---

    Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

    Gia giáo và thân giáo

    Giáp Văn Dương

    Ngày nhỏ, khi còn sống ở quê, cứ mỗi khi trong nhà có người đến tuổi dưng vợ gả chồng, tôi lại thường xuyên nghe ông bà chú bác của mình bình luận về người phối ngẫu tương lai cho con cháu mình. Trong những cuộc trao đổi như thế, tiêu chuẩn mạnh nhất để chọn người lại không nằm ở sự giàu có hay thông minh tài sắc, mà hay kết ở một câu giản dị: Con nhà gia giáo.

    Mà cũng ngạc nhiên không kém, khi đã viện dẫn đến “con nhà gia giáo” thì mọi ý kiến khác đều tắt ngúm. Cứ như “con nhà gia giáo” là tiêu chuẩn cao nhất, không còn gì có thể sánh bằng.

    Nếu tỉ mẩn mà suy ngẫm thêm thì lại càng ngạc nhiên hơn nữa, chọn người phối ngẫu mà lại đặt hết niềm tin vào mấy chữ “con nhà gia giáo”, chứ không phải chính người được chọn. Nhiều bậc ông bà chưa biết mặt mũi dâu rể tương lai ra sao, chỉ cần người mai mối nói con nhà nọ cháu nhà kia, và bồi thêm một câu “con nhà gia giáo” là coi như xong, chuẩn bị trầu cau sắm hỏi nếu là nhà trai, hoặc âm thầm gật đầu nếu là nhà gái.

    Tất nhiên, việc này thường diễn ra ở khâu hỏi ý kiến. Còn hai đương sự đã âm thầm tìm hiểu nhau trước đó. Nhưng bằng các kỹ thuật bàn ra tán vào, cộng với lý thuyết tối giản “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, thì kết quả cuối cùng hết sức giằng co. Dù thế nào đi nữa, con nhà gia giáo cũng là một luận chứng vô cùng mạnh mẽ. Bên nào có nó cũng có thể thắng dễ dàng, còn không có nó thì gần như nắm chắc phần bại trong tay, mà nếu không thì cũng phải trầy vi tróc vẩy.

    Giờ trưởng thành nhìn lại chuyện xưa với con mắt khác, rằng sao chuyện con nhà gia giáo lại quan trọng như vậy. Mấy nghìn năm kinh nghiệm giáo dục của người xưa xem ra chỉ đọng lại trong mấy chữ đó thôi. Có nó thì được coi là người có giáo dục, mà thiếu nó thì coi như bỏ đi không xét đến.

    Chuyện bỗng trở thành nghiêm trọng. Nói chuyện giáo dục bao giờ cũng là chuyện nghiêm trọng. Thế nào là có giáo dục, thế nào là không, lại càng nghiêm trọng hơn nữa.

    Hẳn nhiên ngày đó trường lớp ít, nhìn người lớn trong làng thì thấy số người được theo học hết phổ thông trong làng tôi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Số người vào đại học lại càng ít hơn nữa. Học hết lớp 7, tương đương cấp hai hiện giờ, dường như là đích đến phổ biến. So với ngày nay, tình trung bình thời gian đi học ở trường chắc chỉ bằng một nửa.

    Trong hoàn cảnh đó, giáo dục phải trông cậy phần lớn vào giáo dục trong gia đình, nên “con nhà gia giáo” trở thành một tiêu chuẩn để phân biệt người có giáo dục hay không.

    Lập luận này có vẻ logic, nhưng nó để lại chút băn khoăn, không lẽ mấy năm đến trường không để lại dấu vết gì. Trong những năm đó, tôi chưa bao giờ nghe đến chuyện cô này cậu kia học hết lớp mấy như một tiêu chuẩn, mà chỉ đơn thuần là “con nhà gia giáo”.

    Giờ về lại làng xưa, tụi nhỏ giờ đều học hết cấp ba, sau đó phần lớn thì đi học nghề hoặc làm công nhân, một số kha khá đi đại học. Việc yêu đương cưới xin không còn bó hẹp trong làng xã như xưa nữa. Nhưng trong các câu chuyện, “con nhà gia giáo” vẫn xuất hiện và giữ vị trí không lay chuyển. Mỗi khi có ai đó nhắc đến mấy chữ đó, câu chuyện bỗng nhiên trùng xuống nghiêm trang. Quanh bàn trà không khí như ngưng đọng. Cảm tưởng như đó là một cái đích xa xăm mình cần hướng tới, hoặc như một tiếc nuối về điều gì đã vuột khỏi tay mình.

    Bất chợt nhớ ra câu chuyện này không chỉ có ở làng xưa xóm cũ. Chốn thị thành chúng tôi cũng nhắc đến nó thường xuyên, nhưng dưới một tên gọi khác, là truyền thống gia đình, hoặc dưới một thuật ngữ có vẻ chuyên môn, là giáo dục trong gia đình.

    Bỗng giật mình như tìm ra một chân lý mới: Được coi là có giáo dục hay không, được coi là thành người hay không, chính là do giáo dục trong gia đình quyết định.

    Kiến thức chuyên môn bỗng ùa về. Những ngày tháng trong nhà trường, đi học hoặc đi dạy bỗng ùa về. Tôi đã học được gì, và đã dạy gì, ở trong nhà trường vậy? Tất nhiên, đó là kiến thức. Mỗi thầy một lĩnh vực, phụ trách một môn học khác nhau. Phân bổ liều lượng, cân đối nội dung, ai cũng thấy thiếu thời gian, ai cũng thấy môn của mình quan trọng nhưng không được quan tâm đúng mức.

    Kiến thức ngày càng nhiều. Chương trình ngày càng nặng. Chạy theo kiến thức đến mức cả thày và trò đều hụt hơi. Phụ huynh cũng hụt hơi. Nhưng kết quả phần nhiều lại là sự thất vọng. Thầy thất vọng trò. Trò thất vọng thầy. Phụ huynh thất vọng nhà trường. Giáo viên thất vọng quản lý. Báo chí thất vọng chuyên gia. Nhân dân thất vọng Bộ giáo dục.

    Đã xảy ra một sự kỳ vọng và một sự thất vọng. Và sẽ tiếp tục xảy ra một sự kỳ vọng và một sự thất vọng như thế nữa. Dài dài…

    Lần lại đầu dây mối nhợ thì thấy rằng, trong suốt một thời gian dài, nhiều phụ huynh đã coi việc giáo dục là việc của nhà trường. Và nhà trường cũng không chối bỏ, khi từ sáng đến chiều con trẻ đều học tập và ăn ngủ ở trong trường. Nhưng tất cả những gì các thầy cô làm trong nhà trường là truyền dạy kiến thức, và tổ chức thi cử xem có nắm được kiến thức đó hay không. Cả thầy và trò đều xoay tít quay bộ sách giáo khoa, bài tập, đề cương và những cuộc thi, mà quên mất việc đặt câu hỏi xem, học những thứ này có giúp cho mình trở thành người có giáo dục hay không, tức có thành người theo cách nói dân dã, hay không?

    Dưới con mắt của người làm chuyên môn, học để lấy kiến thức chỉ cần tính bằng ngày. Nhưng học để làm người, tức học để trở thành người mà mình muốn hướng đến, thì mất hàng thập kỷ. Hai cái học này khác nhau về bản. Dùng cái học này lấn át cái học kia, rồi than vãn kêu la không có kết quả, thì là sự tất yếu.

    Đó là về mặt thời gian thực hiện. Còn về phương pháp lại cũng khác nhau. Học để lấy kiến thức, tức học để biết, thì dùng giáo trình là đủ. Giáo trình này là thứ bên ngoài mình, thường do người khác làm ra, và có thể mua để dạy. Nhưng học để làm người thì giáo trình không phải là sách vở, mà lại là chính cuộc đời mình. Người thầy khi đó sẽ dùng chính đời sống của mìnhđể dạy học, nên gọi là “thân giáo”. Muốn trò của mình thành người thì mình phải thành người trước hết. Không có sách vở nào có thể thay thế được việc này.

    Thân giáo bỗng trở nên vô cùng khó. Lời thầy nói ra sẽ không chỉ là lời trong sách vở, mà phải là chính cuộc sống của thầy. Lời thầy nói, việc thầy làm, cách thầy sống hòa làm một thì mới có sức nặng lay chuyển và rèn rùa người theo học. Nhưng trong thời đại lắm xô bồ này, mấy người thầy hiểu được như vậy, và mấy người thầy làm được như vậy, và mấy nhà trường được thiết kế ra để làm như vậy?

    Gánh nặng thân giáo, gánh nặng dạy con trẻ làm người bỗng chốc lại đổ dồn về phía gia đình, nơi mẹ cha yêu thương vô điều kiện, nơi mẹ cha có hàng chục năm đồng hành cùng con cho đến lúc trưởng thành. Nhưng bao nhiêu mẹ cha hiểu được như vậy, và bao nhiêu mẹ cha làm được như vậy?

    Làm người đã khó. Làm người để dạy người khác thành người còn khó hơn gấp bội. Vậy nên, “con nhà gia giáo” không chỉ là khắc khoải ở một làng quê, mà còn là một bảo đảm về chất lượng giáo dục, vì ở đó người mẹ người cha không dạy học bằng giáo trình có sẵn, mà dạy bằng đời sống của chính mình.
    ---
    Bài đã đăng Thế Giới Tiếp Thị, số Tết 2017.