Thứ Tư, 30 tháng 9, 2009

Minh triết: Cô gái đồng trinh

Giáp Văn Dương

Khác với bà mẹ Triết học, Minh triết là cô gái đồng trinh. Tuy đẹp, nhưng không sinh ra những đứa con cho xã hội. Muốn phát triển và có lịch sử, xã hội cần bà mẹ hơn cô gái. Nhưng có bà mẹ nào lại không từng là một cô gái đồng trinh?

Trong khi các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất được Minh triết là gì, vì bản thân Minh triết vốn thiếu một hệ thống khái niệm để tư duy và để nói về mình, lại có xu hướng ẩn vào đời sống hơn là có thể diễn ngôn, thì một cách đặt câu hỏi ngược lại: Minh triết không là gì, và đặt Minh triết trong mối liên hệ với Triết học, sẽ góp phần hiểu rõ hơn về Minh triết. Từ đó, tìm một hình ảnh mang tính biểu tượng thích hợp nhất cho Minh triết – một kiểu định nghĩa bằng hình ảnh - đồng thời chỉ ra những giới hạn và nêu một vài gợi ý khai thác tiềm năng của Minh triết trong việc hình thành tư tưởng và làm mới Triết học là mục đích của bài viết này.

Minh triết không là gì?

Minh triết không lịch sử

Minh triết, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, là sự thông thái trong cuộc sống. Minh triết thường gắn với những trải nghiệm, tri thức và lựa chọn của cá nhân và ẩn vào cách sống, cách cư xử chứ ít khi kết thành tư tưởng trong trước tác của nhà hiền triết để đời sau có thể nghiền ngẫm, nghiên cứu như một thực thể tự nó. Sự kế thừa của Minh triết là sự bắt trước, học hỏi của các cá nhân những điều mà cá nhân đó cho là khôn ngoan nhất, thích hợp nhất với mình chứ bản thân Minh triết không có tính phát triển kế thừa và do đó, không có lịch sử. Khi nhà hiền triết mất đi, Minh triết của bậc hiền triết đó cũng mất đi theo, nhưng tư tưởng của nhà hiền triết đó, nếu có vẫn có thể được lưu truyền trong đời sống. Trong thực tế, có những nhà hiền triết không tư tưởng.

Minh triết gắn liền với sự sống và sự lựa chọn trong cách ứng xử với cuộc sống, bao gồm cả ứng xử với thiên nhiên, xã hội và bản thân mình, nên Minh triết chỉ tìm thấy trong thì hiện tại, gắn liền với đời sống của một cá nhân.

Vì không có lịch sử, và chỉ sống ở thì hiện tại, nên Minh triết như một thực thể tự nó không có tương lai. Nói cách khác, không thể phỏng đoán những diễn tiến tương lai của Minh triết như của Triết học, Toán học, Vật lý, Sinh học... dựa trên quá khứ của nó. Vì đơn giản, những con người tương lai vẫn chưa ra đời để sống và thực hành Minh triết tương lai đó.

Minh triết không cấu trúc

Khác với Triết học, Minh triết không có cấu trúc, không kết thành một hệ thống lý luận chặt chẽ. Lý do là Minh triết luôn gắn liền với đời sống của một cá nhân. Mà mỗi cá nhân một khác, không có những cá nhân giống hệt nhau. Nên Minh triết của các cá nhân cũng khác nhau, dù có cùng một phông nền đời sống. Do đó, Minh triết của các cá nhân không kết nối thành một hệ thống có cấu trúc xác định.

Minh triết do đó chỉ là những mảnh rời tri thức và trải nghiệm của cá nhân về tự nhiên, xã hội và bản thân mình. Minh triết chỉ là một kho vật liệu về cuộc sống, chứ không phải là một tòa nhà tư tưởng về cuộc sống.

Triết học, khác với Minh triết, được xây dựng một phần lớn từ những khái niệm được định nghĩa chính xác và quá trình suy luận lô-gic, nên có tính lặp lại với những cá nhân khác nhau, miễn sao các cá nhân đó đều thống nhất về ý nghĩa của các khái niệm và quá trình suy luận đó, nên Triết học là một bộ môn khoa học, có lịch sử, có kế thừa, có cấu trúc, trái ngược với Minh triết nhấn mạnh vào trải nghiệm và trực giác nên có hơi hướng của huyền học.

Minh triết không lý tính

Minh triết gắn liền với đời sống và nghiệm sinh của cá nhân, lại chủ yếu là những nghiệm sinh đời thường của các cá nhân đời thường, nên Minh triết nặng về trực giác và cảm tính thay vì lập luận lô-gic và lý tính như Triết học hay các ngành khoa học cụ thể.

Minh triết có xu hướng sử dụng trải nghiệm và tri thức sao cho khôn ngoan nhất, có lợi nhất chứ không nhằm mục đích tạo ra tri thức. Sự thiếu hụt một hệ thống khái niệm được định nghĩa rõ ràng và một quá trình suy luận lô-gic cũng làm cho lý tính của Minh triết vốn đã yếu lại càng yếu hơn.

Sự không lặp lại giữa các cá nhân, không thể kiểm chứng lại một cách chính xác thông qua suy luận hoặc thực nghiệm, làm cho phần lý tính của Minh triết bị nhòe đi do bị điều chỉnh chủ quan khi truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác dưới dạng học hỏi, bắt chước.

Do sự nhòe đi như thế, và do sự lấn át của trực giác so với logic, cảm tính so với lý tính, cộng với việc thiếu hụt một bộ khung lô-gic và khái niệm chính xác chống đỡ, nên so với Triết học – nếu được coi là động vật có xương sống - thì Minh triết có vẻ giống một loại động vật thân mềm.

Minh triết không hướng ngoại

Minh triết chủ yếu hướng sự quan tâm của mình vào những cách cư xử, những lựa chọn được cho là thông thái nhất cho cá nhân trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, nên chủ yếu tập trung vào phục vụ đời sống con người, chứ ít khi đi xa hơn con người. Nếu có, thì cũng để thu lượm những cảm xúc, trải nghiệm hoặc tri thức để trở lại với con người. Vì thế, Minh triết hầu như không hướng tới thế giới tự nhiên như một đối tượng để tìm tòi nghiên cứu. Mà ngược lại, Minh triết luôn quanh quẩn với đời sống con người.

Sự thiếu hụt lịch sử tự thân, cấu trúc và lý tính càng hạn chế Minh triết hướng ra thế giới tự nhiên. Vì sự rộng lớn của giới tự nhiên đòi hỏi một hệ thống khái niệm và lý thuyết đồ sộ để diễn giải, điều mà Minh triết không có.

Minh triết vì thế, gắn liền với những vấn đề của con người như trật tự xã hội, ứng xử, đạo đức, văn hóa... với mục đích làm cho cuộc sống của con người tốt hơn thông qua việc kiểm soát và điều phối những vấn đề của con người mà hầu như bỏ qua việc tìm hiểu thế giới tự nhiên bên ngoài. Nói cách khác, Minh triết luôn hướng về con người và đặt con người vào trung tâm sự quan tâm của mình.

Minh triết không yên tĩnh

Minh triết gắn liền với cuộc sống đời thường. Mà cuộc sống đời thường thì có yên tĩnh bao giờ. Nên Minh triết, về bản chất, lưu tâm và chú trọng cái thay đổi, cái biến động, cái “thời” trong cuộc sống.

Sự thiếu hụt một bộ khung lý tính càng làm cho Minh triết dễ dịch chuyển, đôi khi chỉ bằng một cái chặc lưỡi cá nhân. Giống như một động vật thân mềm, Minh triết có thể bò, trườn vào mọi ngóc ngách của đời sống con người. Còn Triết học, do đặt giới tự nhiên – một thực thể tương đối ổn định trong khoảng thời gian dài - vào trung tâm của sự suy tưởng, nên Triết học ổn định và yên tĩnh hơn nhiều.

Cũng có thể dùng một hình ảnh khác để diễn tả sự mềm mại, linh hoạt của Minh triết, đó là nước. Nước mềm mại, nước luồn lách vào mọi ngõ ngách, nước luôn hướng về chỗ trũng giống như Minh triết luôn hướng về đời sống con người.

Nhưng cả hai hình ảnh này đều phiến diện và không nêu bật được mối liên hệ giữa Minh triết với Triết học. Vì thế, việc tìm kiếm một hình ảnh khác thích hợp hơn làm biểu tượng cho Minh triết là cần thiết.

Cô gái đồng trinh

Triết học được coi như bà mẹ của các ngành khoa học. Bà mẹ này đặt tên, cắt cử công việc, chỗ làm và chỗ gặp gỡ cho các con. Sự trưởng thành của những đứa con, mà phần lớn giờ này đã ra ở riêng và có cơ ngơi riêng, đã làm cho bà mẹ không còn bận rộn như trước. Bà cũng không còn trẻ trung, sung sức, đẹp đẽ và quan trọng như trước nữa, nhưng bà vẫn là chỗ trở về của những đứa con mỗi khi có dịp.

Minh triết thì khác, Minh triết không sinh ra những đứa con khoa học hoặc hệ thống tư tưởng. Minh triết giống cô gái đồng trinh. Cô gái đó thông minh, đẹp và quyến rũ nhưng không có khả năng sinh con đẻ cái. Cô thường tập trung chăm chút cho cuộc sống hiện tại của mình, hơn là những ưu tư xa lắc xa lơ cả về thời gian lẫn địa lý và những quan tâm tận đẩu tận đâu không dính dáng gì đến cuộc sống thường nhật hàng ngày. Điều cô quan tâm nhất là làm sao cô có cuộc sống tốt nhất, an toàn nhất, hài hòa nhất với bên ngoài.

Còn bà mẹ Triết học thì khác, bà tất bật lo toan cuộc sống trăm bề, quan tâm đến mọi thứ, và cố gắng hiểu chúng một cách rõ ràng nhất.

Lo toan nhiều, sinh đẻ nhiều làm cho bà mẹ Triết học già cỗi, kiệt sức. Còn Minh triết giống như cô gái đồng trinh, vẫn trẻ trung tươi mới như thuở nào của nhiều nghìn năm về trước.

Trí não không quá hoàn thiện như bà mẹ Triết học, cô làm người ta cảm thấy gần gũi, dễ mến, thấy cô như sinh ra để dành cho mình, là một phần cuộc sống của mình, và chỉ cần cố gắng một chút là mình có thể chiếm hữu – bằng trực quan, bằng cảm xúc và trải nghiệm cá nhân.

Cô quan tâm đến cuộc sống của con người, vì thế, cô gắn liền với nhân ái, đạo đức và văn hóa.

Cô khéo ăn khéo nói, luôn tìm cách vươn đến sự hài hòa và chân thiện mĩ. Nhưng cô vô tư lự với thế giới bên ngoài, cô không thích đi tìm chân lý ở ngoài đời sống con người.

Sự quan tâm thường xuyên đến đời sống hàng ngày làm người ta thấy cô đáng yêu, thực tế và muốn kết thân. Sự mềm mại, linh hoạt, trọng dịch chuyển của cô làm người ta cảm thấy huyền bí, hấp dẫn.

Cô rất thực, như hôm nay, như của sự này đây. Nhưng cô cũng như ảo ảnh, phảng phất trong mơ trong mộng.

Cô không có tuổi. Cô luôn được tái sinh qua những kiếp người, nên cô trẻ và đẹp mãi.

Cô có tất cả các yếu tố để hấp dẫn mọi người, từ bậc quân vương, trí giả cho đến giới bình dân. Cô làm người ta phải quan tâm, chiêm ngưỡng, tìm về.

Nhưng nếu chỉ có cô, xã hội có phát triển?

Biên giới mong manh

Cô gái đồng trinh Minh triết rất thông thái, nhưng chỉ quan tâm đến đời sống của mình, cốt sao có được cuộc sống tốt nhất, lựa chọn ứng xử tối ưu nhất.

Nhưng việc sắp xếp trật tự, kiểm soát ứng xử văn hóa, đạo đức không phải là sản xuất ra của cải, thứ mà đời sống cần trước hết. Nên đời sống của cô đậm đặc văn hóa và ứng xử, nhưng nghèo nàn vật chất.

Vật chất chỉ đến từ sự khai phá giới tự nhiên. Nhưng cô không chú tâm khai phá.

Cô thông minh và cư xử khéo léo. Cô đạo đức và văn hóa. Cô sống cho hiện tại. Nhiều người say mê cô. Điều đó đáng trân trọng. Nhưng cả xã hội say mê cô. Điều đó đáng báo động.

Vì một cách hiển nhiên, sự phát triển của xã hội không chỉ dựa trên sự ứng xử khéo léo, đạo đức và văn hóa, mà còn dựa trên sự phong phú về của cải vật chất. Nếu của cải vật chất quá nghèo nàn, sự khéo léo, đạo đức và văn hóa có nguy cơ trở thành giả tạo.

Nếu xã hội chỉ chăm chút cho những lựa chọn ứng xử và trật tự trong hiện tại thì sẽ chỉ đi vòng quanh hiện tại. Đó là lý do vì sao những xã hội Minh triết phương Đông hầu như giậm chân tại chỗ. Nhưng trình độ hưởng thụ cuộc sống và ứng xử xã hội của những xã hội Minh triết đó lại cao vượt bậc, đạt đến mức nghệ thuật.

Nhưng nghệ thuật nếu không được xây dựng trên một nền tảng vững chắc nhiều chiều sẽ có nguy cơ trở thành nghệ thuật giả tạo.

Sự tập trung hầu hết vào đời sống thường nhật ở thì hiện tại mà không ngó ngàng đến thế giới bên ngoài tạo ra những vòng tròn khép kín. Những cô gái đồng trinh Minh triết trở thành những cô gái tự kỉ ám thị. Xã hội cũng trở thành xã hội tự kỉ ám thị của những giá trị, trật tự, cảm xúc và tri thức cũ rích, nhàm chán.

Sự mềm dẻo quá mức dễ dẫn đến lảng tránh, đầu hàng trước cái xấu và cái ác trong xã hội, nhất là khi cái xấu và cái ác đó xuất phát từ những thế lực có sức mạnh.

Sự linh hoạt, dễ thay đổi dễ dẫn đến sự coi thường chân lý và nguyên tắc. Những giá trị mà xã hội theo đuổi khi đó có nguy cơ trở thành hình thức, đạo đức giả.

Tập hợp của những cá nhân Minh triết trong đời sống, vì thế chưa chắc đã tạo ra một xã hội Minh triết như một toàn thể. Mà ngược lại, có nguy cơ kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Minh triết cá nhân trở thành u triết tập thể.

Con đường phía trước

Để phát triển và tạo ra lịch sử, xã hội cần những bà mẹ chứ không phải những cô gái đồng trinh.

Nhưng có bà mẹ nào lại không từng là một cô gái đồng trinh?

Vì thế, Minh triết cần là sự chuẩn bị, là đoạn khởi đầu cho bà mẹ Triết học hình thành. Chính cô chứ không ai khác, là người chuẩn bị hành trang để trở thành bà mẹ Triết học, người sinh ra những đứa con giúp ích cho nhận thức, cho hiểu biết, cho sự phát triển của xã hội.

Nhiệm vụ của chúng ta vì thế không phải chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Minh triết - cô gái đồng trinh - mà còn phải nuôi dưỡng cô, bồi đắp cho cô được khỏe mạnh, vững vàng để cô có thể trở thành những bà mẹ tốt sau này.

Cũng cần phải chọn cho cô những người chồng - những đối tượng mà cô cần hướng tới để nhận thức – và của hồi môn là những khái niệm chính xác để tư duy. Chỉ có như thế, cô mới có thể sinh ra những đứa con tư tưởng để nhận thức rõ hơn trước hết là chính mình, rồi đến thế giới xung quanh.

Nếu không, cô sẽ mãi chỉ là cô gái đồng trinh: thông minh, trẻ trung, đạo đức và văn hóa nhưng không đóng góp được gì nhiều cho phát triển và không kiến tạo lịch sử như chính bản thân không lịch sử của cô. Xã hội của các cô khi đó sẽ chỉ đi vòng quanh hiện tại mà không thể tiến về phía tương lai.

Con đường phía trước vì thế không thể là con đường đi vòng quanh hiện tại của những cô gái đồng trinh, Minh triết cá nhân và u triết tập thể, mà phải là con đường của các bà mẹ Triết học, Minh triết cá nhân và thông minh tập thể, để đi thẳng đến tương lai.

Đây là con đường lịch sử, con đường của tư tưởng, của sự khai phá tiềm năng, kế thừa và dựng xây những tòa nhà tư tưởng mới, nhằm hướng tới tương lai chứ không quẩn quanh trong hiện tại.

Chỉ có như thế xã hội mới phát triển, Minh triết mới có thể đóng góp được phần sức lực của mình vào việc kiến tạo sự phát triển đó.

---

Ghi chú: Bài này đã gửi Hội thảo về Minh Triết , Hà Nội 22/9/09.