Thứ Năm, 8 tháng 10, 2009

Bảy điểm ba môn

Giáp Văn Dương

Ước mơ và khao khát học tập của tuổi trẻ là đáng quí, cần trân trọng. Nhưng lợi dụng ước mơ học tập để kiếm tiền là một điều xấu xa, phản đạo đức, cần phải loại bỏ.

Tiền thày bỏ túi

Thông tin về việc nhiều thí sinh dự thi Đại học năm 2009 được 6-7 điểm cho 3 môn nhưng lại có đến 20 trường Đại học, Cao đằng và Các chương trình liên kết với nước ngoài mời học làm cho bất cứ ai quan tâm đến giáo dục Đại học của Việt Nam cũng phải suy nghĩ.

Đọc “chiến lược kinh doanh” của các trường này mới thấy việc các Cơ sở Giáo dục này đang tìm mọi cách lôi kéo thí sinh có điểm thi rất thấp vào học là thực sự vì tiền. Họ đang “kinh doanh học trò” một cách triệt để, kiểu “sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi”.

Mức điểm tuyển dụng của các trường này thấp hơn mức điểm sàn của Bộ Giáo dục và Đào tạo rất nhiều (13-14 điểm), chứng tỏ họ đã bất chấp những qui định mang tính pháp luật để kiếm tiền. Thử hỏi họ sẽ dạy sinh viên của mình sống và làm việc thế nào khi bản thân họ hành xử như vậy?

Hoài nghi chất lượng

Chất lượng đào tạo Đại học của Việt Nam còn rất kém, thể hiện ở nhiều mặt, nhiều chỉ số mà báo chí đã nói đến rất nhiều. Những cử nhân, kĩ sư mới ra trường phần lớn không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và phải đào tạo lại. Một minh chứng là công ty Intel, được cấp phép hoạt động năm 2006, có nhu cầu tuyển dụng 3000 kĩ sư và kĩ thuật viên đến năm 2010, nhưng đến giữa năm 2008 cũng mới chỉ tuyển được 40 người đáp ứng được yêu cầu. Nay với các cơ sở đào tạo nói trên, với chất lượng đầu vào thấp như vậy, cộng với chất lượng yếu kém về cơ sở vật chất, giáo trình và đội ngũ giảng viên, có thể hình dung các cử nhân, kĩ sư ra lò từ các cơ sở này sẽ có chất lượng rất thấp, chắc chắn sẽ không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, và hầu như không thể cạnh tranh với những người tốt nghiệp ở các trường công lập.

Tuy nhiên, cần lưu ý một điểm là tình trạng tuyển dụng cán bộ vào các cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập, trọng bằng cấp và đầy rẫy tiêu cực. Khi đó sẽ rất dễ xảy ra tình trạng “hàng xẩu đuổi hàng tốt” nếu những người này bằng cách nào đó kiếm được một chân công chức. Điều này không chỉ bất lợi cho những người có năng lực, mà còn làm suy yếu và bóp méo toàn bộ khối hành chính, sự nghiệp và các cơ quan công quyền.

Được gì, mất gì?

Khi học các trường này, điều mất đầu tiên là tiền bạc. Thường chi phí học tập ở các cơ sở này rất lớn. Nhưng chất lượng thì không tương xứng. Nên dù có mảnh bằng trong tay, người học cũng khó có cơ hội xin tìm việc làm, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh đang rất gay gắt.

Điều đáng buồn là các trường này thường nhắm đến các thí sinh ở tỉnh lẻ hoặc vùng sâu vùng xa, nơi thiếu thông tin về chất lượng đào tạo của trường và tâm lý trọng bằng cấp vẫn đè nặng. Ở những vùng đó, kinh tế còn nhiều khó khăn. Một người đi học sẽ là gánh nặng cho cả gia đình trong suốt một thời gian dài. Việc lôi kéo con em của các gia đình này vào học với một tương lai mù mờ và đặt một gánh nặng tài chính lên vai cha mẹ họ là một điều đáng phê phán.

Tuy nhiên, cái mất lớn nhất khi theo học những chương trình này là mất thời gian và tuổi trẻ. Nhưng không phải người học nào cũng ý thức được điều này. Thời gian và tuổi trẻ là vốn quí và nguồn lực quan trọng bậc nhất của mỗi người. Nhưng thời gian và tuổi trẻ có giới hạn. Nên việc hoang phí bốn năm vào học những chương trình kém chất lượng như vậy là một sự hoang phí thời gian và tuổi trẻ ghê gớm của mỗi người, rộng ra là hoang phí thời gian và tuổi trẻ của toàn xã hội.

Khi còn ở Áo, chúng tôi đã từng so sánh việc học nghề rồi đi làm và theo học đến bậc tiến sĩ. Ở đây, học sinh được phân luồng từ cấp II theo hai hướng: học nghề và học lên đại học. Hết cấp II, khoảng 14 tuổi, những học sinh theo hướng học nghề sẽ vào học các trường dạy nghề thêm hai năm và đi làm vào năm 16 tuổi. Trong khi những học sinh muốn có bằng tiến sĩ phải học cấp III đến năm 18 tuổi, và học thêm liên tục một mạch 8 năm liền qua ba bậc Đại học, Cao học và Tiến sĩ, với giả thiết mọi việc học tập và nghiên cứu đều thuận lợi, mới nhận được bằng Tiến sĩ vào năm 26 tuổi, nhưng thông thường là 28-30 tuổi hoặc cao hơn. So với người theo hướng học nghề và đi làm từ năm 16 tuổi thì họ chậm hơn 10-15 năm làm việc. Đó là khoảng thời gian và tuổi trẻ khổng lồ của mỗi người và của cả xã hội. Nếu so sánh về bậc lương và các chế độ ưu tiên xã hội như bảo hiểm, hưu trí thì người đi làm trước 10-15 năm thường chiếm ưu thế so với người mới có bằng Tiến sĩ. Vì thế, sau khi cân nhắc, phần đông học sinh ở đây chọn con đường học nghề để đi làm chứ không phải là vào đại học.

Cũng tương tự như vậy, ở Anh, khi học xong cấp II ở độ tuổi 16, học sinh thường có một quyết định quan trọng là học tiếp lên đại học hay học nghề và đi làm. Muốn học đại học, chỉ cần có 3 chứng chỉ dự bị đại học của ba môn nào đó, học thêm mất 1-2 năm, là có thể ghi danh vào các trường để học. Nhưng việc học đại học hay không được thí sinh cân nhắc rất kĩ càng, xem có phù hợp với mình, có đáng để đầu tư thời gian và tiền bạc hay không. Cho nên, dù các trường đại học tuyển sinh theo kiểu “đánh trống ghi tên”, nhưng chỉ có 1/3 số người ở độ tuổi 18 vào học đại học, 2/3 còn lại đi học nghề và đi làm ngay sau khi tốt nghiệp cấp II.

Như thế đủ thấy, học đại học không phải là lựa chọn duy nhất, bằng bất kì giá nào. Quyết định học đại học hay không phải được học sinh và các bậc phụ huynh cân nhắc kĩ dựa trên năng lực và lợi ích của khoản đầu tư, gồm tiền bạc, thời gian và tuổi trẻ của chính người học.

---

Bài nài đã trích đăng trên Sinh viên Việt Nam ngày 4/10/2009.