Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2009

Quy trình 10 điểm để Việt Nam phát triển khác Trung Quốc (Phần 2)

Sự phát triển của một đất nước được quyết định bởi chính trình độ phát triển của những công dân nước đó. Nếu một nước chỉ toàn công dân chất lượng thấp, ốm yếu và dốt nát, thì chắc chắn đó sẽ là một đất nước yếu.

LTS: Nhấn mạnh con đường phát triển của Việt Nam để khác Trung Quốc là phải lấy phát triển để giữ ổn định, TS Giáp Văn Dương đã phân tích quy trình 10 điểm cho sự phát triển đó.
Trong phần trước, ông đã phân tích 5 điểm: Đổi mới cơ chế quản lý và điều hành đất nước; Tái cấu trúc nền kinh tế và mô hình quản lý; Mở rộng dân chủ, Nâng cao năng lực lãnh đạo; Trọng dụng trí thức, chuyên gia; và Gỡ nút cổ chai, tháo gông cùm mềm.

Trong phần này, TS Giáp Văn Dương tiếp tục thảo luận quy trình mười điểm nhằm mục đích xây dựng và triển khai mô hình Phát triển để ổn định vào thực tế sao cho hiệu quả. Mời bạn đọc theo dõi và cùng tranh luận.

Phần trước: Việt Nam và lựa chọn mô hình phát triển khác Trung Quốc
Quy trình 10 điểm để Việt Nam phát triển khác Trung Quốc (P.1)

6. Hoàn thiện hạ tầng mềm

Bên cạnh việc gỡ nút cổ chai và tháo các gông cùm mềm, thì việc hoàn thiện hạ tầng mềm, bao gồm hạ tầng tư dưy; hạ tầng tổ chức; hệ thống hành lang pháp lý; tách bạch các vùng chống lấn nhân tạo như chồng lấn giữa hành pháp - lập pháp - tư pháp, chồng lấn giữa nhà nước - thị trường; bổ sung những khiếm khuyết trong cấu trúc xã hội, v.v, có vai trò quyết định trong việc tạo ra những nền tảng bền vững cho phát triển.



Những nền tảng này tạo ra cơ sở hạ tầng mềm, tuy vô hình nhưng vô cùng quan trọng, thậm chí quan trọng hơn cả cơ sở hạ tầng cứng như hệ thống thống đường xá, cầu cống, điện nước, v.v,. Chúng không chỉ ảnh hướng đến cách nghĩ, cách làm của người dân, việc sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến việc quản lý và điều hành đất nước cũng như việc ra các chính sách lớn và chính các chính sách đó khi thời cuộc có những biến động của chính phủ.

Việc hoàn thiện hạ tầng mềm sẽ không chỉ giúp hệ thống đã có vận hành trơn tru hiệu quả hơn mà còn tạo cơ sở cho việc sáng tạo và khai phá những cách nghĩ cách làm mới, yếu tố quyết định sự thành công trong nền kinh tế tri thức và thời toàn cầu hóa mà ở đó, cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt.

Sức mạnh nội tại của một quốc gia không hẳn được đo bằng số lượng vũ khí, súng đạn mà quốc gia đó có được, mà trước hết được đo bằng độ bền vững và phong phú của hạ tầng mềm mà đất nước đó xây dựng được. Trong đó, biểu hiện rõ nhất là sự hoàn thiện của hệ thống luật pháp và mức độ pháp quyền mà nước đó đạt được.

Chỉ khi nào hoàn thiện được hạ tầng mềm đất nước mới có cơ hội phát triển nhanh và bền vững.

7. Ưu tiên giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ

Con người là trung tâm của mọi hoạt động trong xã hội. Sự phát triển của một đất nước được quyết định bởi chính trình độ phát triển của những công dân nước đó. Nếu một nước chỉ toàn công dân chất lượng thấp, ốm yếu và dốt nát, thì chắc chắn đó sẽ là một đất nước yếu. Việc bị bắt nạt trên trường quốc tế và rơi vào cảnh nghèo hèn, lạc hậu là điều không tránh khỏi. Vì thế, nâng cao chất lượng công dân là, cả về thể chất lẫn tri thức và phẩm cách, đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước.

Giáo dục và y tế, vì thế cần phải được chú trọng tâm đặc biệt.

Đầu tư cho giáo dục, y tế cần phải được coi là đầu tư cho hạ tầng quốc gia. Cải cách giáo dục và nâng cao chất lượng chăm sóc người dân cần phải tiến hành mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa.
Thất bại trong giáo dục sẽ là thất bại toàn diện, tuyệt đối. Còn thất bại trong y tế, không chỉ là thiếu nhân đạo mà còn trực tiếp làm suy yếu sức khỏe giống nòi và gây ra những mầm mống bất ổn cho xã hội.

Song song với ưu tiên cho giáo dục và y tế, khoa học và công nghệ cũng cần phải được đầu tư và chú trọng thích đáng, vì nó là động lực trực tiếp tạo ra sự phát triển. Trên thực tế, mức độ phát triển của một nước được thể hiện trước hết bằng trình độ phát triển của nền khoa học - công nghệ mà nước đó đạt được.

Chỉ có đầu tư thích đáng cho khoa học - công nghệ thì đất nước mới có khả năng tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, có khả năng cạnh tranh được với quốc tế. Nền kinh tế dựa trên lao động giá rẻ và mở rộng qui mô vốn như hiện thời mới có khả năng chuyển dịch sang nền kinh tế công nghệ cao. Chỉ khi đó, sự phát triển mới thực sự là phát triển bền vững.
Sự phát triển của khoa học - công nghệ không chỉ giúp thay đổi cấu trúc và trình độ của nền kinh tế, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống, trong đó quan trọng nhất là việc tác động trở lại để nâng cao chất lượng giáo dục - y tế, hỗ trợ các hoạt động văn hóa - nghệ thuật, đào tạo trí thức, chuyên gia và trực tiếp góp phẩn củng cố tiềm lực quốc phòng, do đó góp phần bảo vệ an ninh và chủ quyền của đất nước.

Đầu tư cho khoa học, công nghệ vì thế cần phải được quan tâm đặc biệt.

8. Phát triển bền vững, giữ gìn bản sắc

Phát triển nóng chạy theo lợi nhuận và những chỉ tiêu thuần kinh tế dẫn đến tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên, tàn phá môi trường là vấn đáng lo ngại ở Việt Nam.

Để phát triển bền vững thì các chính sách phát triển không chỉ giới hạn trong phát triển khinh tế, mà phải đặt trong mối quan hệ tổng thể, liên đới: kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Nếu không, sự phát triển sẽ trở nên lệch lạc. Phát triển kinh tế nhưng lại hủy hoại văn hóa, tạo ra bất công xã hội, gia tăng cách biệt giàu nghèo và tàn phá môi trường. Khi đó, tuy kinh tế có phát triển nhưng văn hóa lại suy đồi, xã hội mất ổn định và môi trường sống bị ô nhiễm. Phần lớn người dân không được hưởng thành quả của phát triển mà trái lại, chịu hậu quả của sự phát triển nóng vội, chạy theo lợi nhuận trước mắt của một nhóm nhỏ gây ra.

Các chính sách phát triển kinh tế, qui hoạch vùng và đô thị, khai thác tài nguyên, v.v, vì thế phải được thiết kế trong một tầm nhìn tổng thể, dài hạn, có xét đầy đủ đến các khía cạnh văn hóa - xã hội - môi trường sao cho sự phát triển của ngày hôm nay phải là tiền đề cho sự phát triển của ngày mai, chứ không phải là sự tàn phá, hủy hoại và tai ương mà thế hệ sau phải gánh chịu.

Trong phát triển, phải có chính sách giữ gìn bản sắc văn hóa, coi việc giữ gìn bản sắc là một phần không thể tách rời của phát triển. Sự định hình và định vị một quốc gia trong trường quốc tế, trước hết là định hình và định vị bởi đặc trưng nền văn hóa, chứ không phải là biên giới lãnh thổ và vị trí địa lý của quốc gia đó.

An ninh văn hóa, hiểu theo nghĩa giữ gìn bản sắc văn hóa và sựu gắn kết, tạo ra sức mạnh nội tại của xã hội nhằm chống lại những xâm lăng văn hóa từ bên ngoài do di dân, do truyền thông đa phương tiện, toàn cầu hóa, v.v, vì thế trở thành một trong những vấn đề an ninh quan trọng bậc nhất.

Phát triển mà không bền vững và không giữ được bản sắc là sự phát triển hủy diệt. Vì vậy, khi thiết kế và ban hành những chính sách phát triển, nhất thiết phải tuân thủ hai yêu cầu: phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc.

9. Tận dụng ưu thế

Trong công cuộc cạnh tranh toàn cầu, mỗi nước đều có những lợi thế so sánh của mình mà nước khác không có được. Để cạnh tranh thắng, mỗi nước phải biết cách khai thác tối đa lợi thế của mình. Với Việt Nam, có thể chỉ ra 8 ưu thế rất cơ bản như sau:



Phát triển phải dựa trên lợi thế so sánh của Việt Nam.

i) Vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương và địa chính trị quốc tế: Việt Nam có đường bờ biển dài, tiếp giáp với Biển Đông là nơi có con đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới đi qua, lại nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, có có khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế lớn là Trung Quốc, ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đây là một lợi thế trời cho, cần phải có chính sách khai thác sao cho hiệu quả.

ii )Tài nguyên phong phú: Việt Nam có tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản và đa dạng sinh học hết sức phong phú. Đây là ưu thế. Tuy nhiên, không vì thế mà tìm cách khai thác bừa bãi, cạn kiệt. Chính sách khai thác tài nguyên nhất thiết phải đảm bảo phát triển bền vững, có xét đến nhu cầu của các thế hệ mai sau.

iii) Dân số trẻ, học hỏi nhanh, thân thiện: Dân số Việt Nam còn rất trẻ, trong đó hơn một nửa đang trong độ tuổi lao động. Người Việt Nam có khả năng học hỏi, thích ứng nhanh, tính tình thân thiện. Đó là những ưu thế mà không phải nước nào cũng có được.

iv) Văn hóa phong phú, lâu đời: Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời, đa dạng, nên là một điểm mạnh trong phát triển, nhất là phát triển các ngành dịch vụ, du lịch và các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Ưu thế này cần được quan tâm khai thác và bảo tồn, nhất là khi nhu cầu giao lưu văn hóa giữa các nước và các vùng ngày càng phát triển mạnh.

v) Tinh thần dân tộc cao, lịch sử hào hùng: Người Việt Nam có tinh thần dân tộc cao và một lịch sử dựng nước, giữ nước hào hùng. Đây là một ưu thế cần được xét đến và có chính sách khai thác hợp lý. Tuy nhiên, không nên lạm dụng và tự hào quá mức, cũng không nên bỏ qua những nhược điểm rất cơ bản khác đã ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp sống, nếp ứng xử của dân tộc.

vi) Thị trường mới, tiềm năng lớn: Với qui mô dân số hơn 86 triệu người, Việt Nam là một thị trường mới nổi và tương đối lớn, hứa hẹn nhiều tiềm năng có thể khai thác. Đây cũng là một ưu thế mà Việt Nam cần tận dụng khi thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển các ngành công nghiệp trong nước.

vii) Đà phát triển và hội nhập: Công cuộc Đổi mới đã tạo ra đà phát triển cho Việt Nam, nên cũng là một ưu thế. Ngoài ra, Việt Nam đã có những bước hội nhập đáng kể vào nền kinh tế thế giới, và đã có những thành công bước đầu. Những kết quả này cần được sử dụng như những lực đẩy giúp cho công cuộc phát triển tiến xa hơn nữa.

viii) Chính sách Trung Quốc+1: Trung Quốc là một nền kinh tế đang lên với một thị trường khổng lồ, thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng chính điều này cũng tạo ra rủi ro đầu tư cho họ. Vì thế, chính sách Trung Quốc+1 đang là lựa chọn của nhiều nhà đầu tư lớn. Việt Nam với những ưu thế nêu trên xứng đáng là một lựa chọn thay thế cho Trung Quốc. Vì thế, cần phải quan tâm khai thác tối đa lợi thế này.

10. Lợi ích quốc gia là trên hết

Trong quá trình phát triển, không thể tránh khỏi tình trạng xung đột lợi ích giữa các nhóm, các vùng trong nước và với các quốc gia khác. Khi đó, chỉ có tinh thần đặt lợi ích quốc gia là trên hết mới có khả năng soi đường cho việc ra những quyết sách lớn cũng như việc điều chỉnh những chính sách đã không còn hợp lý.

Nói cách khác, tinh thần lợi ích quốc gia là trên hết phải đóng vai trò kim chỉ nam cho mọi hoạt động điều hành và quản lý đất nước. Nếu không, phát triển sẽ trở trành sự xâu xé lợi ích giữa các nhóm, vùng khác nhau ở trong nước, và dễ dẫn đến nhượng bộ về lợi ích quốc gia với nước ngoài.

Tinh thần lợi ích quốc gia là trên hết còn đóng vai trò dẫn dắt trong việc ra những quyết sách và hành động thực tiễn trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền lợi ích, chủ quyền văn hóa, v.v, khi xảy ra những va chạm và tranh chấp quốc tế.

Chỉ có triệt để tuân theo tinh thần lợi ích quốc gia là trên hết mới có khả năng đưa ra những chính sách phát triển bền vững, tổng thể, dài hạn về tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, v.v. Chỉ khi đó, mô hình Phát triển để ổn định mới phát huy được tác dụng của mình, đất nước mới phát triển bền vững, dân tộc mới trường tồn.

Còn nữa:

Phần kết: Tránh ổn định giả tạo nhờ giá đỡ phát triển.