Thứ Hai, 4 tháng 1, 2010

Việt Nam: Mô hình phát triển

(Bài này đã đăng trên Tuần Việt Nam ngày 24-27/12/2009 với tiêu đề khác, nay đăng lại bản thảo ở đâu để làm tư liệu)


Kỳ 1:
Phát triển để ổn định

Xem xét mối quan hệ giữa Ổn định và Phát triển, thấy rằng: Việt Nam nên chọn mô hình Phát triển để ổn định thay vì Ổn định để phát triển mà ở đó, Phát triển được ưu tiên và sử dụng làm tiền đề để ban hành những chính sách lớn, tạo ra Ổn định.

Ngày 18.9.2009, tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc có bài viết cho rằng Việt Nam đã “sao chép toàn diện và thành công nhất mô hình Trung Quốc” [1]. Sau đó, Giáo sư Đặng Phong đã bác bỏ điều này và cho rằng, tuy có những điểm tương đồng, nhưng “đổi mới ở Việt Nam không phải là sự sao chép mô hình cải cách của Trung Quốc” [2].

Cho dù Đổi mới của Việt Nam có phải là sự sao chép mô hình cải cách của Trung Quốc hay không, thì đi tìm một mô hình phát triển khác và thích hợp hơn mô hình Trung Quốc cho thời gian tới luôn là niềm mong đợi của của bất cứ người nào quan tâm đến Việt Nam, dù đó là người Việt hay người nước ngoài, như nhận định của Đại sứ thương mại Mỹ Susan Schwab: "Việt Nam phải tìm con đường riêng, khác Trung Quốc, không trở thành một Trung Quốc thứ hai trên con đường phát triển".

Việc quốc gia lựa chọn mô hình phát triển nào, trước hết phụ thuộc vào những đặc điểm cụ thể của đất nước. Việt Nam và Trung Quốc tuy có nhiều điểm tương đồng, nhất là trong thể chế chính trị và hình thái kinh tế xã hội, nhưng lại có nhiều khác biệt quan trọng, đặc biệt là qui mô dân số, vị trí địa lý, đặc điểm văn hóa..., vì thế tìm kiếm một mô hình phát triển khác biệt và thích hợp hơn mô hình Trung Quốc là điều hoàn toàn có thể.

Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam diễn ra ngày 3-4/12/2009 tại Hà Nội cũng khuyên Việt Nam cần suy nghĩ nghiêm túc về con đường phát triển tiếp theo, đặc biệt là gia đoạn sau khủng hoảng, khi các nước cùng đua tranh tìm con đường phát triển tốt hơn so với thời kì trước đó [3].

Bài viết này vì thế tập trung vào thảo luận mô hình phát triển của Việt Nam, với mục đích định hình một mô hình phát triển khác biệt và phù hợp với điều kiện Việt Nam hơn mô hình Trung Quốc, tuy đạt được nhiều thành công đáng ghi nhận về phát triển kinh tế nhưng cũng có nhiều tồn tại trong các vấn đề chính trị, xã hội, môi trường, v.v.

Xuất phát điểm của thảo luận là việc xem xét cặp phạm trù Ổn định & Phát triển. Những phân tích về cặp phạm trù này sẽ được dùng làm cơ sở để đưa ra những đề xuất xây dựng mô hình phát triển của Việt Nam.

Ổn định & Phát triển

Ổn định & Phát triển là hai yêu cầu tiên quyết để quản lý và điều hành đất nước mà bất cứ chính quyền nào cũng phải quan tâm. Nhưng chúng không độc lập mà có quan hệ tương tác hữu cơ, biện chứng với nhau. Cái này làm tiền đề cho sự tồn tại của cái kia. Trên thực tế, không thể tách biệt Ổn định và Phát triển, vì Ổn định là cơ sở để tạo ra Phát triển, và Phát triển, đến lượt nó lại là yếu tố quyết định việc tạo ra Ổn định đúng nghĩa.

Tuy nhiên, tùy từng thời kỳ và điều kiện riêng biệt cụ thể mà Ổn định hay Phát triển được sử dụng làm tiền đề trong việc thiết kế mô hình phát triển, mà biểu hiện cụ thể là việc ra các đường lối chính sách quản lý và điều hành đất nước.

Việt Nam và Trung Quốc, hay bất cứ quốc gia nào khác, đều muốn Ổn định và Phát triển. Tuy nhiên, do qui mô dân số, vị trí địa lý, đặc điểm văn hóa... khác nhau mà việc sử dụng Ổn định hay Phát triển làm tiền đề sẽ khác nhau.

Trung Quốc: Ổn định để phát triển

Mô hình Trung Quốc là chủ đề nóng và được nhiều giới quan tâm trong thời gian gần đây. Tuy nhiên một mô tả chi tiết, chính xác về mô hình Trung Quốc vẫn còn là một điều đang bàn cãi. Qua quan sát, có thể thấy, mô hình Trung Quốc nhấn mạnh vào Ổn định, lấy Ổn định làm tiền đề để kiến tạo Phát triển, vì thế có thể tóm gọn như sau: Trung Quốc: Ổn định để phát triển.

Việc Trung Quốc lấy Ổn định làm tiền đề cho Phát triển xuất phát từ qui mô dân số Trung Quốc quá lớn, quán tính quá nặng nề , lịch sử Trung Quốc quá phức tạp, chỉ cần một sơ suất trong điều hành và quản lý cũng có thể gây ra những xáo trộn trên diện rộng. Vì thế, Trung Quốc đã chọn Ổn định làm trung tâm của việc ra các chính sách kinh tế, xã hội, mà biểu hiện rõ ràng nhất là sách lược Ổn định chính trị để phát triển kinh tế. Điều này phản ánh rõ nét trong công cuộc cải cách của Trung Quốc: cải cách được tiến hành từ trên xuống. Điều này cho phép Trung Quốc kiểm soát được sự ổn định tổng thể trong quá trình cải cách. Nói cách khác, Trung Quốc ưu tiên Ổn định trước, và dùng Ổn định như một tiền đề để kiến tạo Phát triển.

Việt Nam: Phát triển để ổn định

Với qui mô dân số và diện tích nhỏ hơn nhiều lần so với Trung Quốc, quán tính của Việt Nam tất nhiên sẽ nhỏ hơn, cộng với vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu quốc tế và bản tính linh hoạt, có khả năng ứng phó cao của người dân, trong mối quan hệ Ổn định – Phát triển, Việt Nam nên chọn Phát triển làm điểm đột phá, làm tiền đề kiến tạo Ổn định. Chỉ có như thế, Việt Nam mới có thể tạo ra một mô hình phát triển nhanh hơn, năng động hơn so với Trung Quốc trong khi vẫn giữ được sự ổn định do phát triển mang lại.

Trong suốt công cuộc Đổi mới, với những đặc điểm riêng biệt nêu trên, Việt Nam dường như đã đã chọn phát triển là giải pháp để tạo ra sự ổn định. Khác với Trung Quốc, Đổi mới của Việt Nam được tiến hành từ dưới lên, cải cách kinh tế đi trước cải cách chính trị, thực tiễn đi trước lý luận, địa phương đi trước trung ương. Dù cố ý hay không, những việc đó đã xảy ra và cùng hướng đến một mục đích: phát triển để phá vỡ bế tắc do ổn định giả tạo gây ra.

Vì thế, mô hình phát triển của Việt Nam, đã được kiểm chứng một phần qua công cuộc Đổi mới, là: Phát triển để ổn định. Mô hình này khác về bản chất so với mô hình Ổn định để phát triển của Trung Quốc, và hứa hẹn sẽ là một mô hình thích hợp hơn so với mô hình Trung Quốc nếu được chính danh hóa và triển khai một cách khoa học, đồng bộ.

Một điều cần lưu tâm là cho dù trong thời kì Đổi mới, Việt Nam có những lúc đã ưu tiên Ổn định trước Phát triển vì những biến động bên ngoài và nhận thức về con đường Đổi mới còn chưa hoàn chỉnh, dẫn đến những dao động trong chính sách, gây ra những bước lùi hoặc đi chậm không đáng có và bỏ lỡ nhiều cơ hội đáng tiếc. Để tránh lặp lại những điều này, trong tương lai, mô hình Phát triển để ổn định cần được quán triệt, tạo tiền đề cho việc ra những quyết sách phát triển đất nước, vì thời kì mò mẫm đã qua rồi, và đổi mới, hội nhập đã trở thành một xu thế không thể đảo ngược.

Ngoài việc chính danh mô hình Phát triển để ổn định. Vấn đề là còn lại là triển khai mô hình này như thế nào cho hiệu quả. Phần tiếp theo của bài viết này đề xuất một quy trình mười điểm góp phần xây dựng mô hình này.

Giáp Văn Dương

---
Ghi chú:
1. People’s Dailly, 18/9/2009: http://english.peopledaily.com.cn/90001/90780/91342/6761416.html, bản dịch tiếng Việt có thể xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/MoHinhTrungQuoc.htm.
2. Đ.T, Mô hình Trung Quốc và quan hệ với Việt Nam, Tuần Việt Nam, 30/9/2009:
3. Phạm Chi Lan, Việt Nam phải chịu phát triển, Tuần Việt Nam, 10/12/2009: http://tuanvietnam.net/2009-12-08-viet-nam-phai-chiu-phat-trien

Kỳ 2:
Quy trình mười điểm

Phần này thảo luận quy trình mười điểm nhằm mục đích xây dựng và triển khai mô hình Phát triển để ổn định vào thực tế sao cho hiệu quả.

1. Đổi mới cơ chế quản lý và điều hành đất nước

Nếu chọn phát triển là mục tiêu thì cơ chế quản lý và điều hành đất nước là yếu tố đầu tiên cần phải thay đổi. Cơ chế quản lý ôm đồm, không quản được thì cấm đã trở nên lạc hậu và trở thành nhân tố chính cản trở sự phát triển, đến mức khi gặp khó khăn, ách tắc, bất cứ ai cũng có thể thốt lên một câu cửa miệng: Tại cơ chế!

Khi tất cả cùng thống nhất mọi sự là “tại cơ chế”, thì cơ chế là thứ đầu tiên cần phải thay đổi.
Thay đổi cơ chế quản lý và điều hành đất nước sẽ giúp giải phóng mọi nguồn lực để phát triển. Trong đó, quan trọng nhất là giải phóng tư duy và giải phóng năng lực sản xuất.

Giải phóng năng lực tư duy của mọi cá nhân, đặc biệt là của tầng lớp trí thức, sẽ giúp vượt qua những nếp tư duy cũ đã lỗi thời, sửa chữa những khiếm khuyết, gập ghềnh của con đường đang đi và tìm ra những con đường phát triển mới.

Gải phóng năng lực sản xuất sẽ tạo ra của cải dồi dào cho xã hội mà khoán 10 là một ví dụ điển hình. Chỉ bằng việc thay đổi cơ chế quản lý trong nông nghiệp mà trong một thời gian ngắn, Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu lương thực, nói nôm na là từ một nước đói ăn, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới.

Trong việc thay đổi cơ chế quản lý và điều hành đất nước, thì cải cách hành chính đóng vai trò quyết định. Hệ thống hành chính thực chất là hệ thống quản lý và điều hành đất nước, là hiện thân của hệ thống chính trị. Do đó, cải cách hành chính thực chất là phần quan trọng và thiết thực nhất của cải cách chính trị, là giải pháp thay thế và lối thoát cho cải cách chính trị . Vì thế, cải cách hành chính cần được nhìn nhận đúng bản chất, đúng tầm quan trọng và đòi hỏi quyết tâm chính trị để hoàn thành.

Mục tiêu của cải cách hành chính là tạo ra một hệ thống hành chính gọn nhẹ, minh bạch, hiệu quả. Chỉ có như thế, những nút cổ chai cản trở sự phát triển mới được tháo gỡ. Mục tiêu phát triển mới có cơ hội để trở thành hiện thực.

2.Tái cấu trúc nền kinh tế và mô hình quản lý

Song song với việc thay đổi cơ chế vận hành thì cơ cấu của hệ thống cũng cần phải thay đổi. Quan trọng nhất là cơ cấu của nền kinh tế và mô hình quản lý cần phải được cấu trúc lại sao cho phù hợp hơn, hiệu quả hơn và đặt trong một tầm nhìn tổng thể, dài hạn.

Cơ cấu là hữu hình, cơ cơ chế là vô hình, hai thứ này tương tác qua lại lẫn nhau như phần “xác” và “hồn” của một con người, nên không thể thay đổi cơ chế mà không cấu trúc lại cơ cấu một cách tương ứng.

Cơ cấu nền kinh tế đang có những bất cập lớn. Bộ phận doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước đang có tỷ trọng quá lớn, chiếm hầu hết đầu tư của nhà nước về vốn, đất đai và hưởng nhiều lợi ích về cơ chế, nhưng lại tạo ra lợi nhuận và số công ăn việc làm quá ít so với khối doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đã đến lúc, cần phải kiên quyết thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp và lấy hiệu quả kinh tế, đóng góp cụ thể cho xã hội, như số lượng việc làm tạo ra, tỷ suất lợi nhuận trên đầu tư, số tiền thuế đóng cho nhà nước làm cơ sở đánh giá và đầu tư tín dụng, đất đai cho doanh nghiệp.

Cơ cấu các ngành nghề cũng cần được xem xét lại, trong đó ưu tiên những ngành có hàm lượng chất xám cao, không chỉ ở sản phẩm cuối cùng mà ở cả trong quá trình gia công sản phẩm. Mô hình tăng trưởng dựa vào việc mở rộng qui mô vốn và lao động giá rẻ đã đạt đến đỉnh điểm và bắt đầu phản tác dụng mà biểu hiện cụ thể là chất lượng phát triển thấp, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt và ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng, nên cần phải thay đổi.

Doanh nghiệp là cấu tử quan trọng nhất của nền kinh tế. Vì thế, tái cấu trúc nền kinh tế phải đi liền với tái cấu trúc doanh nghiệp, ở đó, các vấn đề về sở hữu, vốn, chiến lược kinh doanh... cần có sự cấu trúc lại. Điển hình của việc tái cấu trúc doanh nghiệp là quá trình cổ phần hóa các công ty nhà nước. Đây là một chính sách đúng. Tiếc rằng, cổ phần hóa lại diễn ra quá mức chậm chạp và ẩn chứa đầy rẫy vấn đề cần giải quyết.

Bên cạnh việc tái cấu trúc nền kinh tế, mô hình quản lý cũng cần được tổ chức lại. Cơ chế Bộ chủ quản nên bãi bỏ, vì đây là động tác quản lý thừa. Bộ chỉ nên điều hành và giám sát thông qua các văn bản pháp luật thay vì trực tiếp quản lý nội dung hoạt động của các tổ chức trực thuộc. Lý do là Bộ chủ quản không bao giờ có đủ thời gian và nguồn lực để am hiểu mọi hoạt động của tổ chức trực thuộc, nên việc quản lý trở thành hình thức, và trực tiếp cản trở sự vận hành và phát triển của chính các tổ chức, cơ quan trực thuộc đó.

Nhà nước, thay vì làm kinh tế, nên chuyên tâm điều tiết nền kinh tế bằng các công cụ pháp lý và tài chính vĩ mô và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình: quản lý, giám sát và điều hành đất nước thông qua luật pháp; thu thuế và đầu tư vào hạ tầng quốc gia, dịch vụ công và các ngành kinh tế bị thị trường bỏ ngỏ; bảo vệ an ninh cho người dân và bảo vệ chủ quyền đất nước, v.v.

3. Mở rộng dân chủ, nâng cao năng lực lãnh đạo

Dân chủ giúp khai thác tối đa khả năng đóp góp của mọi công dân, vì thế là yếu tố quan trọng sống còn để phát triển. Thực tế, đã có những bước chuyển đáng kể về việc mở rộng dân chủ trong Đảng và mở rộng dân chủ cơ sở. Đây là hướng đi rất đúng đắn. Chỉ tiếc rằng, do còn chưa rõ ràng giữa hai nhu cầu Ổn định và Phát triển, nói cách khác, giữa hai lựa chọn Ổn định để phát triển hay Phát triển để ổn định mà việc mở rộng dân chủ gặp một số khó khăn đáng kể, đôi khi từ chính hệ thống công quyền và luật pháp hiện hành. Cụ thể, dự thảo thí điểm dân bầu trực tiếp chủ tịch xã hoặc bỏ Hội đồng Nhân dân cấp quận/huyện có thể gặp phải những cản trở từ chính bản hiến pháp hiện hành.

Đoàn kết là sức mạnh. Nhưng sức mạnh đó lấy từ đâu nếu không phải là từ mọi thành phần tham gia khối đoàn kết đó? Vì thế, nếu không có cơ chế dân chủ để khai thác sức mạnh của toàn khổi đoàn kết đó thì sức mạnh sẽ mãi mãi ở dạng tiềm năng, nếu có thể hiện ra thì cũng chỉ là một phần rất nhỏ.

Nếu lựa chọn Phát triển để ổn định thì dân chủ là yếu tố quyết định giải phóng tiềm năng của mọi cá nhân, tổ chức, cộng đồng... tạo điều kiện cho công cuộc phát triển được hoàn thành. Vì thế, dân chủ cần được mở rộng hơn nữa,ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực.

Dân chủ sẽ giúp lựa chọn lãnh đạo có năng lực. Lãnh đạo là người chèo lái con tàu quốc gia. Năng lực lãnh đạo quyết định tốc độ và đích đến, cũng như việc tránh được những khó khăn trở ngại trong suốt hành trình.

Muốn có được những lãnh đạo tốt, có năng lực thì qui trình bổ nhiệm, sử dụng và sàng lọc cán bộ cần phải có những điều chính, sao cho thu hút được người tài vào hệ thống quản lý và điều hành đất nước.

Trong số những phẩm chất cần có của lãnh đạo, thì những phẩm chất sau cần được ưu tiên đặc biệt: lắng nghe dân, hiểu dân;lấy dân làm gốc; tài năng đảm lược, tầm nhìn rộng; phẩm chất đạo đức tốt; biết cách tập hợp tài năng quanh mình; dũng cảm đưa ra những quyết định lớn khi cần thiết; dám đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.

Chỉ khi nào có được lãnh đạo có những phẩm chất như vậy thì đất nước mới có thể phát triển. Vì thế, nâng cao năng lực lãnh đạo, nhất là tầng lớp lãnh đạo cao cấp, là nhân tố quyết định việc đưa đất nước phát triển thành công hay thất bại.

4. Trọng dụng trí thức, chuyên gia

Người xưa nói: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống cấp”. Điều này ngày xưa đúng thì ngày nay càng đúng hơn. Vì sao? Vì việc cạnh tranh ngày nay không chỉ diễn ra với một vài nước xung quanh như ngày xưa, mà cạnh tranh trên qui mô toàn cầu, ngày càng gay gắt trong mọi lĩnh vực, nên vai trò của người tài ngày càng quan trọng hơn đối với công cuộc phát triển đất nước.

Trí thức, chuyên gia là tinh hoa, là bộ óc của dân tộc, là đầu tàu kéo đất nước đi lên. Nếu trí thưc, chuyên gia không được trọng dụng, không được tạo điều kiện để cống hiến, thì không chỉ tốc độ phát triển sẽ chậm lại, mà nguy cơ tụt hậu, chệch hướng, hỗn loạn và đổ vỡ là điều khó tránh khỏi.

Thực tế đã có quá nhiều bài học vì nôn nóng, duy ý chí, bỏ qua lời cảnh báo của trí thức, chuyên gia mà đất nước phải trả những giá rất đắt bằng thời gian và phát triển.
Nhìn sang những nước phát triển nhanh, đều thấy họ không chỉ trọng dụng giới trí thức chuyên gia trong nước mà còn tìm mọi cách thu hút giới trí thức chuyên gia nước ngoài mà Hàn quốc và Singapore là hai ví dụ điển hình.

Vì thế, xây dựng và hoàn thiện cơ chế trọng dụng trí thức, chuyên gia; tạo điều kiện cho giới trí thức, chuyên gia được cống hiến có vai trò quan trọng trong việc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và đúng hướng.

5. Gỡ nút cổ chai, tháo gông cùm mềm

Trong giao thông, những nút cổ chai là nơi gây tắc nghẽn. Có khi chỉ vì một nút cổ chai mà cả hệ thống đang vận hành trơn tru bị ách lại, mà điển hình là tham nhũng và hành chính quan liêu. Vì thế, việc xác định và tháo gỡ những nút cổ chai trong cơ chế giám sát, điều hành và quản lý, trong hệ thống hành chính, thậm chí trong cả tư duy và cách thức tổ chức, có vai trò quyết định trong việc tạo ra một hệ thống các hành lang thông thoáng thúc đẩy sự phát triển.

Hệ thống các hành lang này, mà quan trọng nhất là hành lang tư duy, hành lang pháp lý và hành lang tổ chức, cần phải đảm bảo các yếu tố thông thoáng, minh bạch, công bằng, hiện đại và hội nhập. Những tiêu chuẩn mà ta vươn tới cần phải là những chuẩn của ngày hôm nay và là tiêu chuẩn chung mà cả thế giới tuân theo. Chỉ có như thế, sức mạnh liên đới của cả hệ thống mới được giải phóng, môi trường đầu tư kinh doanh mới được thuận lợi, thương mại quốc tế mới được thúc đẩy, các hoạt động văn hóa, khoc học, giáo dục, v.v. mới có điều điện để phát triển.

Nhiều nút cổ chai trong tư duy, trong tổ chức, trong hệ thống hành chính - công quyền, trong các lý thuyết kinh tế - chính trị - xã hội lâu ngày đã biến tướng trở thành các gông cùm mềm, có sức nặng kinh hoàng của quán tính lịch sử và văn hóa. Những gông cùm này, tuy mềm mại và vô hình, nhưng khóa tay khóa chân và làm đông cứng tư duy, cản trở sự phát triển và bào mòn năng lực của dân tộc. Đó là lý do vì sao “Việt Nam có tiềm năng, có năng lực trong dân, lại có sự tiếp sức quốc tế, thế nhưng Việt Nam vẫn chưa bật lên được” [3] mà ví dụ điển hình là “ODA: không thiếu tiền, chỉ thiếu cách giải ngân” [4].

Những nút cổ chai và gông cùm mềm này, vì thế, cần phải được gỡ bỏ.

Giáp Văn Dương

Kỳ 3:

Quy trình mười điểm (tiếp)

Phần này tiếp tục thảo luận quy trình mười điểm nhằm mục đích xây dựng và triển khai mô hình Phát triển để ổn định vào thực tế sao cho hiệu quả.

6. Hoàn thiện hạ tầng mềm

Bên cạnh việc gỡ nút cổ chai và tháo các gông cùm mềm, thì việc hoàn thiện hạ tầng mềm, bao gồm hạ tầng tư dưy; hạ tầng tổ chức; hệ thống hành lang pháp lý; tách bạch các vùng chống lấn nhân tạo như chồng lấn giữa hành pháp – lập pháp – tư pháp, chồng lấn giữa nhà nước - thị trường; bổ sung những khiếm khuyết trong cấu trúc xã hội, v.v, có vai trò quyết định trong việc tạo ra những nền tảng bền vững cho phát triển. Những nền tảng này tạo ra cơ sở hạ tầng mềm, tuy vô hình nhưng vô cùng quan trọng, thậm chí quan trọng hơn cả cơ sở hạ tầng cứng như hệ thống thống đường xá, cầu cống, điện nước, v.v, vì chúng không chỉ ảnh hướng đến cách nghĩ, cách làm của người dân, việc sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến việc quản lý và điều hành đất nước cũng như việc ra các chính sách lớn và chỉnh chỉnh các chính sách đó khi thời cuộc có những biến động của chính phủ.

Việc hoàn thiện hạ tầng mềm sẽ không chỉ giúp hệ thống đã có vận hành trơn tru hiệu quả hơn mà còn tạo cơ sở cho việc sáng tạo và khai phá những cách nghĩ cách làm mới, yếu tố quyết định sự thành công trong nền kinh tế tri thức và thời toàn cầu hóa mà ở đó, cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt.

Sức mạnh nội tại của một quốc gia không hẳn được đo bằng số lượng vũ khí, súng đạn mà quốc gia đó có được, mà trước hết được đo bằng độ bền vững và phong phú của hạ tầng mềm mà đất nước đó xây dựng được. Trong đó, biểu hiện rõ nhất là sự hoàn thiện của hệ thống luật pháp và mức độ pháp quyền mà nước đó đạt được.

Chỉ khi nào hoàn thiện được hạ tầng mềm đất nước mới có cơ hội phát triển nhanh và bền vững.

7. Ưu tiên giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ

Con người là trung tâm của mọi hoạt động trong xã hội. Sự phát triển của một đất nước được quyết định bởi chính trình độ phát triển của những công dân nước đó. Nếu một nước chỉ toàn công dân chất lượng thấp, ốm yếu và dốt nát, thì chắc chắn đó sẽ là một đất nước yếu. Việc bị bắt nạt trên trường quốc tế và rơi vào cảnh nghèo hèn, lạc hậu là điều không tránh khỏi. Vì thế, nâng cao chất lượng công dân là, cả về thể chất lẫn tri thức và phẩm cách, đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước.

Giáo dục và y tế, vì thế cần phải được chú trọng tâm đặc biệt.

Đầu tư cho giáo dục, y tế cần phải được coi là đầu tư cho hạ tầng quốc gia. Cải cách giáo dục và nâng cao chất lượng chăm sóc người dân cần phải tiến hành mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa. Thất bại trong giáo dục sẽ là thất bại toàn diện, tuyệt đối. Còn thất bại trong y tế, không chỉ là thiếu nhân đạo mà còn trực tiếp làm suy yếu sức khỏe giống nòi và gây ra những mầm mống bất ổn cho xã hội.

Song song với ưu tiên cho giáo dục và y tế, khoa học và công nghệ cũng cần phải được đầu tư và chú trọng thích đáng, vì nó là động lực trực tiếp tạo ra sự phát triển. Trên thực tế, mức độ phát triển của một nước được thể hiện trước hết bằng trình độ phát triển của nền khoa học – công nghệ mà nước đó đạt được.

Chỉ có đầu tư thích đáng cho khoa học – công nghệ thì đất nước mới có khả năng tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, có khả năng cạnh tranh được với quốc tế. Nền kinh tế dựa trên lao động giá rẻ và mở rộng qui mô vốn như hiện thời mới có khả năng chuyển dịch sang nền kinh tế công nghệ cao. Chỉ khi đó, sự phát triển mới thực sự là phát triển bền vững.
Sự phát triển của khoa học – công nghệ không chỉ giúp thay đổi cấu trúc và trình độ của nền kinh tế, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống, trong đó quan trọng nhất là việc tác động trở lại để nâng cao chất lượng giáo dục – y tế, hỗ trợ các hoạt động văn hóa – nghệ thuật, đào tạo trí thức, chuyên gia và trực tiếp góp phẩn củng cố tiềm lực quốc phòng, do đó góp phần bảo vệ an ninh và chủ quyền của đất nước.

Đầu tư cho khoa học, công nghệ vì thế cần phải được quan tâm đặc biệt.

8. Phát triển bền vững, giữ gìn bản sắc

Phát triển nóng chạy theo lợi nhuận và những chỉ tiêu thuần kinh tế dẫn đến tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên, tàn phá môi trường là vấn đáng lo ngại ở Việt Nam.

Để phát triển bền vững thì các chính sách phát triển không chỉ giới hạn trong phát triển khinh tế, mà phải đặt trong mối quan hệ tổng thể, liên đới: kinh tế- văn hóa – xã hội – môi trường. Nếu không, sự phát triển sẽ trở nên lệch lạc. Phát triển kinh tế nhưng lại hủy hoại văn hóa, tạo ra bất công xã hội, gia tăng cách biệt giàu nghèo và tàn phá môi trường. Khi đó, tuy kinh tế có phát triển nhưng văn hóa lại suy đồi, xã hội mất ổn định và môi trường sống bị ô nhiễm. phần lớn người dân không được hưởng thành quả của phát triển mà trái lại, chịu hậu quả của sự phát triển nóng vội, chạy theo lợi nhuận trước mắt của một nhóm nhỏ gây ra.

Các chính sách phát triển kinh tế, qui hoạch vùng và đô thị, khai thác tài nguyên, v.v, vì thế phải được thiết kế trong một tầm nhìn tổng thể, dài hạn, có xét đầy đủ đến các khía cạnh văn hóa - xã hội - môi trường sao cho sự phát triển của ngày hôm nay phải là tiền đề cho sự phát triển của ngày mai, chứ không phải là sự tàn phá, hủy hoại và tai ương mà thế hệ sau phải gánh chịu.

Trong phát triển, phải có chính sách giữ gìn bản sắc văn hóa, coi việc giữ gìn bản sắc là một phần không thể tách rời của phát triển. Sự đình hình và định vị một quốc gia trong trường quốc tế, trước hết là định hình và định vị bởi đặc trưng nền văn hóa, chứ không phải là biên giới lãnh thổ và vị trí địa lý của quốc gia đó.

An ninh văn hóa, hiểu theo nghĩa giữ gìn bản sắc văn hóa và sựu gắn kết, tạo ra sức mạnh nội tại của xã hội nhằm chống lại những xâm lăng văn hóa từ bên ngoài do di dân, do truyền thông đa phương tiện, toàn cầu hóa, v.v, vì thế trở thành một trong những vấn đề an ninh quan trọng bậc nhất.

Phát triển mà không bền vững và không giữ được bản sắc là sự phát triển hủy diệt. Vì vậy, khi thiết kế và ban hành những chính sách phát triển, nhất thiết phải tuân thủ hai yêu cầu: phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc.

9. Tận dụng ưu thế

Trong công cuộc cạnh tranh toàn cầu, mỗi nước đều có những lợi thế so sánh của mình mà nước khác không có được. Để cạnh tranh thắng, mỗi nước phải biết cách khai thác tối đa lợi thế của mình. Với Việt Nam, có thể chỉ ra 8 ưu thế rất cơ bản như sau:

i) Vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương và địa chính trị quốc tế: Việt Nam có đường bờ biển dài, tiếp giáp với Biển Đông là nơi có con đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới đi qua, lại nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, có có khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế lớn là Trung Quốc, ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đây là một lợi thế trời cho, cần phải có chính sách khai thác sao cho hiệu quả.

ii )Tài nguyên phong phú: Việt Nam có tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản và đa dạng sinh học hết sức phong phú. Đây là ưu thế. Tuy nhiên, không vì thế mà tìm cách khai thác bừa bãi, cạn kiệt. Chính sách khai thác tài nguyên nhất thiết phải đảm bảo phát triển bền vững, có xét đến nhu cầu của các thế hệ mai sau.

iii) Dân số trẻ, học hỏi nhanh, thân thiện: Dân số Việt Nam còn rất trẻ, trong đó hơn một nửa đang trong độ tuổi lao động. Người Việt Nam có khả năng học hỏi, thích ứng nhanh, tính tình thân thiện. Đó là những ưu thế mà không phải nước nào cũng có được.

iv) Văn hóa phong phú, lâu đời: Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời, đa dạng, nên là một điểm mạnh trong phát triển, nhất là phát triển các ngành dịch vụ, du lịch và các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Ưu thế này cần được quan tâm khai thác và bảo tồn, nhất là khi nhu cầu giao lưu văn hóa giữa các nước và các vùng ngày càng phát triển mạnh.

v) Tinh thần dân tộc cao, lịch sử hào hùng: Người Việt Nam có tinh thần dân tộc cao và một lịch sử dựng nước, giữ nước hào hùng. Đây là một ưu thế cần được xét đến và có chính sách khai thác hợp lý. Tuy nhiên, không nên lạm dụng và tự hào quá mức, cũng không nên bỏ qua những nhược điểm rất cơ bản khác đã ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp sống, nếp ứng xử của dân tộc.

vi) Thị trường mới, tiềm năng lớn: Với qui mô dân số hơn 86 triệu người, Việt Nam là một thị trường mới nổi và tương đối lớn, hứa hẹn nhiều tiềm năng có thể khai thác. Đây cũng là một ưu thế mà Việt Nam cần tận dụng khi thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển các ngành công nghiệp trong nước.

vii) Đà phát triển và hội nhập: Công cuộc Đổi mới đã tạo ra đà phát triển cho Việt Nam, nên cũng là một ưu thế. Ngoài ra, Việt Nam đã có những bước hội nhập đáng kể vào nền kinh tế thế giới, và đã có những thành công bước đầu. Những kết quả này cần được sử dụng như những lực đẩy giúp cho công cuộc phát triển tiến xa hơn nữa.

viii) Chính sách Trung Quốc+1: Trung Quốc là một nền kinh tế đang lên với một thị trường khổng lồ, thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng chính điều này cũng tạo ra rủi ro đầu tư cho họ. Vì thế, chính sách Trung Quốc+1 đang là lựa chọn của nhiều nhà đầu tư lớn. Việt Nam với những ưu thế nêu trên xứng đáng là một lựa chọn thay thế cho Trung Quốc. Vì thế, cần phải quan tâm khai thác tối đa lợi thế này.

10. Lợi ích quốc gia là trên hết

Trong quá trình phát triển, không thể tránh khỏi tình trạng xung đột lợi ích giữa các nhóm, các vùng trong nước và với các quốc gia khác. Khi đó, chỉ có tinh thần đặt lợi ích quốc gia là trên hết mới có khả năng soi đường cho việc ra những quyết sách lớn cũng như việc điều chỉnh những chính sách đã không còn hợp lý. Nói cách khác, tinh thần lợi ích quốc gia là trên hết phải đóng vai trò kim chỉ nam cho mọi hoạt động điều hành và quản lý đất nước. Nếu không, phát triển sẽ trở trành sự xâu xé lợi ích giữa các nhóm, vùng khác nhau ở trong nước, và dễ dẫn đến nhượng bộ về lợi ích quốc gia với nước ngoài.

Tinh thần lợi ích quốc gia là trên hết còn đóng vai trò dẫn dắt trong việc ra những quyết sách và hành động thực tiễn trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền lợi ích, chủ quyền văn hóa, v.v, khi xảy ra những va chạm và tranh chấp quốc tế.

Chỉ có triệt để tuân theo tinh thần lợi ích quốc gia là trên hết mới có khả năng đưa ra những chính sách phát triển bền vững, tổng thể, dài hạn về tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, v.v. Chỉ khi đó, mô hình Phát triển để ổn định mới phát huy được tác dụng của mình, đất nước mới phát triển bền vững, dân tộc mới trường tồn.

Giáp Văn Dương

------
Ghi chú:
3. Phạm Chi Lan, Việt Nam phải chịu phát triển, Tuần Việt Nam, 10/12/2009: http://tuanvietnam.net/2009-12-08-viet-nam-phai-chiu-phat-trien
4. Hoàng Phương, OAD: Không thiếu tiền, chỉ thiếu cách giải ngân, Tuần Việt Nam, 10/6/2009: http://www.tuanvietnam.net/oda-khong-thieu-tien-chi-thieu-cach-giai-ngan

Kỳ 4:

Phát triển nhờ mô hình đúng

Phát triển để ổn định! Phát triển bền vững để ổn định lâu dài! Đó là niềm mong ước của bất cứ người Việt Nam nào, cũng là sự mong đợi của tất cả những người quan tâm đến tình hình Việt Nam, bất kể trong hay ngoài nước.

Lựa chọn mô hình phát triển có vai trò quan trọng sống còn trong việc phát triển đất nước, vì nó trực tiếp quyết định việc ra các chính sách lớn của quốc gia. Trong quá khứ, chúng ta đã phải trả giá đắt, cả về thời gian, nguồn lực và mức độ phát triển, do lựa chọn mô hình phát triển không phù hợp, mà điển hình là mô hình kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp, phi thị trường.

Trong nông nghiệp, mô hình hợp tác nông nghiệp xã đã phá hủy năng lực sản xuất của người nông dân, dẫn đến tình trạng đất nước phải nhập khẩu lương thực triền miên. Sau đó, việc thay đổi mô hình hợp tác xã bằng mô hình khoán hộ đã giải phóng năng lực sản xuất trong nông nghiệp, đưa Việt Nam từ một nước đói ăn thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

Tuy nhiên, mô hình hợp tác xã vẫn còn ảnh hưởng sâu rộng đến các lĩnh vực khác trong xã hội, mà nghiêm trọng nhất là trong khoa học và giáo dục. Đây là hai hoạt động đòi hỏi nhiều sáng tạo và trách nhiệm cá nhân, nhưng vẫn được tổ chức theo kiểu “làm ăn tập thể”, nên đẻ ra những “hợp tác xã khoa học”, “hợp tác xã giáo dục”. Đó là một trong những lý do chính kìm hãm sự phát triển của nền khoa học và giáo dục nước nhà.

Đã đến lúc phải dứt khoát vứt bỏ những mô hình phát triển lỗi thời, không chỉ trong kinh tế mà còn trong mọi hoạt động văn hóa, khoa học, giáo dục, v.v. và thay thế bằng những mô hình mới thích hợp hơn.

Để làm được điều này, cần phải xây dựng một mô hình phát triển chung cho cả đất nước để định hướng. Tiêu chí để xây dựng mô hình này cần phải đảm bảo hai yêu cầu: i) giải phóng mọi nguồn lực, vô hình và hữu hình, để phát triển; ii) lấy phát triển bền vững làm tiền đề để tạo ra ổn định thực chất, lâu dài. Có thể gọi mô hình đó bằng một cái tên ngắn gọn: Phát triển để ổn định.

Đây là mô hình mở, sẵn sàng đón nhận mọi yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển. Vì thế, việc xác lập và chính danh hóa mô hình phát triển để ổn định này không chỉ có lợi cho việc hoạch định và ban hành các đường lối, chính sách lớn, mà còn mở đường cho việc khai phá tư duy, tìm tòi những cách nghĩ, cách làm mới. Những yếu tố mới này đến lượt nó lại quay lại thúc đẩy sự phát triển, vì thế trực tiếp củng cố cho mô hình phát triển để ổn định.

Sau khi đã xác lập được mô hình phát triển để ổn định, phải kiên trì và tạo điều kiện cho mô hình này phát huy hiệu quả tối đa. Việc dao động giữa các mô hình sẽ tạo ra lúng túng, không nhất quán trong quản lý và điều hành, dẫn đến rối loạn và bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển. Thực tế cho thấy, đã có những lúc chúng ta dao động giữa hai lựa chọn ưu tiên: phát triển hay ổn định, dẫn đến việc chậm bước tiến trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong hội nhập kinh tế thế giới.

Đất nước nghèo, nguyên nhân không phải là vì nghèo tài nguyên hay nguồn lực, mà vì thiếu một mô hình phát triển đúng, có thể giải phóng mọi nguồn lực để kiến tạo phát triển. Do đó, muốn phát triển bền vững, cách duy nhất là tạo dựng một mô hình phát triển phù hợp, tạo tiền đề cho việc ra những chính sách kinh tế, xã hội và hoàn thiện một cơ chế quản lý và điều hành đất nước minh bạch, hiệu quả, mạch lạc.

Khi đích đến là phát triển thì phải ưu tiên Phát triển trước Ổn định. Còn nếu chỉ chăm chắm vào Ổn định mà coi nhẹ Phát triển thì Ổn định dù có đạt được cũng chỉ là ổn định giả tạo, trước sau gì cũng bị đổ vỡ do không có Phát triển làm giá đỡ.

Việc xác lập và chính danh hóa mô hình phát triển để ổn định nói trên, và hoàn thiện mô hình này bằng quy trình mười điểm, sẽ giúp Việt Nam có được một mô hình phát triển mở, thích hợp hơn và khác với mô hình ổn định để phát triển của Trung Quốc.

Việc thực hiện qui trình mười điểm nói trên phải được tiến hành luân phiên, linh hoạt, đồng bộ như việc điều chỉnh bánh lái của con tàu, theo hướng dễ làm trước, khó làm sau; gốc giải quyết trước, ngọn giải quyết sau chứ không nên tiến hành tuần tự, tuyến tính từng điểm một, sao cho quá trình đổi mới và phát triển diễn ra trơn tru, hiệu quả, không gây va đập và rạn nứt trong xã hội.

Trong quá trình đổi mới và kiến tạo phát triển, mục tiêu Phát triển để ổn định phải được sử dụng như kim chỉ nam cho việc ban hành các đường lối, chính sách lớn, với mục đích giải phóng mọi nguồn lực, vô hình và hữu hình, để thúc đẩy phát triển bền vững và tạo ra ổn định thực chất, lâu dài.

Trong tương lai, việc Việt Nam có phát triển được bền vững hay không, khi phải cạnh tranh với các nước ráo riết tìm kiếm con đường phát triển mới sau khủng hoảng; đa số người dân có được hưởng thành quả của phát triển hay không; các thế hệ mai sau có được hưởng lợi từ sự phát triển của ngày hôm nay hay không, phụ thuộc vào việc Việt Nam có xác lập được một mô hình phát triển cởi mở, sáng tạo và thích hợp với Việt Nam hay không.

Phát triển để ổn định! Phát triển bền vững để ổn định lâu dài! Đó là niềm mong ước của bất cứ người Việt Nam nào, cũng là sự mong đợi của tất cả những người quan tâm đến tình hình Việt Nam, bất kể trong hay ngoài nước.

Giáp Văn Dương