Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Vẫn là "Tôi yêu em"


Hiện giờ đang hơi mênh mang một tỵ.

Lý do là sau khi đăng entry tán nhảm về bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin, nhân đọc bài viết “Tôi yêu em, bài thơ không hình ảnh” của Ngô Tự Lập, tôi nhận được phản hồi của một người bạn, cho biết: Ngay từ năm 1991, Lê Anh Tuấn (lúc đó là giảng viên trường Đại học Sư Phạm Hà Nội) đã lên tiếng về chất lượng bản dịch bài thơ này cũng như một số phân tích rất đáng suy ngẫm qua hai bài viết Về một bài thơ tình nổi tiếng của Puskin được giảng ở PTTH” (Báo Giáo dục và thời đại, số 14 ngày 1/7/1991) và “Thời của tình yêu” (Tuần báo Văn nghệ số 52(2189), ngày 29/12/2001), trong đó có chung một nhận định với Ngô Tự Lập trong bài viết nói trên là bản dịch mà chúng tôi được học ở PTTH chưa được chỉnh và có lẽ, cần phải dịch lại.

Điều đáng tiếc là những ý kiến như vậy, dù được đăng báo Giáo dục và Thời đại đàng hoàng, sau hai năm, vẫn chưa đến được một vùng quê cách trụ sở của tòa báo 70 km, để một học trò như tôi mười mấy năm sau còn mang một nỗi ấm ức trong lòng. Nếu có một bản dịch khác để so sánh, hoặc đơn giản là nếu biết được bản dịch chúng tôi đang học chưa được hoàn chỉnh và có thêm bản dịch nghĩa để tham khảo thì có lẽ, tôi đã không phải ấm ức lâu đến thế.

Nay đăng lại cả hai bài của tác giả Lê Tuấn Anh ở đây để tạo một cái nhìn toàn diện hơn về bài thơ này. Mong rằng anh Lê Tuấn Anh sẽ đồng ý và mỉm cười nơi chín suối, vì xa cõi văn chương đã ngót chục năm mà vẫn có người tìm đọc bài viết của anh. Âu đó cũng là một niềm vui mà không phải ai cũng có được ở trong đời.

Cảm ơn chị QH và anh LHA đã dành thời gian tìm lại hai bài viết của tác giả Lê Tuấn Anh và gửi cho Giáp Văn.

--

VỀ MỘT BÀI THƠ TÌNH NỔI TIẾNG

CỦA PUSKIN ĐƯỢC GIẢNG Ở PTTH

Với chương trình văn cải cách, lần đầu tiên học sinh PTTH nước ta được học thơ trữ tình Puskin. Bài thơ tình Vô đề nổi tiếng của Puskin sẽ có mặt trong sách giáo khoa lớp 11, qua bản dịch của Thúy Toàn:

Tôi yêu em: đến nay chừng có thể

Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai,

Nhưng không để em phải bận lòng thêm nữa

Hay hồn em phải gợn sóng u hoài.

Tôi yêu em, âm thầm không hy vọng

Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,

Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm

Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

Theo tôi, những người làm chương trình chọn bài thơ Vô đề này là rất đạt, bởi vì: “Thơ trữ tình Puskin - đó là thơ vừa độ nhưng phức tạp, và thơ trữ tình Puskin – đó là thơ ca của những tình cảm tốt lành” thì đây là bài thơ rất tiêu biểu, nó phù hợp với tâm lý và trình độ học sinh lớp 11, phù hợp với yêu cầu giáo dục tình yêu đôi lứa cho lứa tuổi này. Đây là bài thơ tình kiểu tình yêu học trò, trong sáng và thuần túy thuộc lĩnh vực tinh thần.

Cũng vì những điều nêu trên mà tôi thấy băn khoăn về bản dịch của Thúy Toàn; mặt khác, tôi thấy cần hiểu bài thơ của Puskin sao cho trúng, và hiểu đúng cái hay của nó.

Trước hết, xin mạn phép dịch nghĩa bài thơ từ nguyên bản tiếng Nga (in trong cuốn “Puskin – thơ trữ tình”, Nxb Văn học nghệ thuật Mastxcơva 1983, trang 177).

Có thời tôi đã yêu em: tình yêu có lẽ vẫn còn

Chưa tắt hẳn trong lòng tôi đâu;

Nhưng mặc nó, khỏi phiền em phải lo nghĩ nữa;

Tôi không muốn làm em buồn vì bất cứ điều gì cả

Tôi đã yêu em âm thầm, không hy vọng,

Khi thì hãi, khi thì ghen đã làm tôi mệt lả;

Tôi đã yêu em thật thà quá đỗi, hiền lành quá đỗi

Cầu trời cho em được những người khác yêu.

- 1829 –

Người ta biết rằng em trong bài thơ là Anna Olênhina, cô gái Nga 21 tuổi (còn Puskin 30 tuổi). Bấy giờ, nhà Anna là trung tâm văn học ở thủ đô, Puskin hay lui tới đây từ năm trước, thân quen với cả gia đình, nhất là với Anna. Puskin đã yêu Anna và đã ngỏ lời, nhưng bị khước từ. Nhà thơ có trái tim đa cảm ấy đã viết ít nhất 7 bài thơ mà đối tượng trữ tình là Anna Olênhina. Bài thơ này chỉ là một trong bảy bài thơ. Điều đáng chú ý là học sinh phổ thông biết Anna là ai cũng được, không biết Anna cũng được. Các em vẫn hiểu và cảm nhận bài thơ rất đỗi giản dị, trong sáng và rất hiện đại này. Đây là lời người con trai nói với người con gái bằng giọng say mê và thông minh, thật thà và thánh thiện.

Bản dịch thơ của Thúy Toàn là bản dịch khá hay về âm điệu. Nó đã có mặt trong sổ tay của nhiều người yêu thơ. Nó là bản dịch duy nhất lưu hành rộng rãi ở ta. Điều đáng nói là ở chỗ, bài thơ của Puskin và bản dịch thơ của Thúy Toàn là hai thông điệp nghệ thuật khác nhau, có những cái hay khác nhau; cái vẻ bề ngoài của chúng có vẻ giống nhau bao nhiêu thì thông báo về nghĩa của nó lại khác nhau bấy nhiêu, thậm chí có đôi khi đối lập nhau.

Bản dịch của Thúy Toàn chia bài thơ làm hai khổ, mỗi khổ 4 câu. Từ khổ này đến khổ kia lại có sự chuyển khác về cách diễn đạt. Ở khổ đầu, nhân vật “Tôi” có vẻ điệu đà, kiểu cách, làm duyên, làm dáng, với những “chừng có thể”, “ngọn lửa tình”, “bận lòng”, “bóng u hoài”… Khổ thơ thứ hai chuyển sang lối nói thẳng thừng: “Tôi yêu em âm thầm, không hy vọng – Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen”. Đọc hai câu thơ cảm thấy thật cay đắng và dường như anh con trai cố trưng ra cái vô duyên của mình. Không che dấu sự tuyệt vọng của mình. Vì thế, câu khẳng định tiếp theo Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm không cứu được câu chúc Cầu em được người tình như tôi đã yêu em, và làm cho thơ trở thành vô lý (?).

Trong khi đó, bài thơ của Puskin là kỷ niệm về một tình yêu. Đúng, đây là lời thổ lộ trước người mình yêu, nhưng lại không phải là người yêu mình. Rất khó. Khó vì tình yêu chưa tắt, trái lại, nó vẫn sống mãnh liệt trong anh không phải ngẫu nhiên anh nhắc lại đến ba lần những lời “Tôi đã yêu em” (Ya vas liubil), còn từ “yêu” (ở dạng khác nhau trong tiếng Nga) được lặp đi lặp lại đến 5 lần, khiến cho 8 dòng thơ thấm đẫm tình yêu. Càng khó vì hoàn cảnh ấy thì nói sao cho thoát khỏi bẽ bàng. Thường thì khi rơi vào hoàn cảnh như vậy, người ta sẽ giữ mối tình cảm. Puskin đã nói và chọn được một cách rất thông minh.

Ba năm trước đó (1826) Puskin đã viết Lời thú nhận trước Alếchxđra Oxipôva. Bài Lời thú nhận mở đầu thế này:

Tôi yêu em dù tôi điên dại

Dẫu cho đó là một việc vô tích sự, một sự xấu hổ vô nghĩa lý

Thì chính trong cơn ngu xuẩn vô phúc ấy

Tôi sẽ quỳ dưới chân em mà thú nhận

Nghĩa là, Puskin đã có lần viết: Tôi yêu em (Ya vas liubliu). Nhưng lần này ông không viết như vậy. Hay ông cũng không viết: Ya vas poliubil (dùng động từ thể hoàn thành, nghĩa là Tôi yêu em từ bấy đến giờ, từ khi ấy đến tận giây phút này). Nghĩa giản dị và tinh tế của Ya vas liubil là có thời, tôi đã yêu em. Và bây giờ tôi nói với em về thời yêu ấy. Bài thơ nhuốm màu sắc hồi ức về một tình yêu đã qua. Có thể, đây là cách tỏ tình kiểu Puskin – thật thà kể cho nàng nghe rằng, đã có thời tôi yêu em thế nào. Kiếm một cái cớ hợp lý mà thốt ra những lời “dễ ưa”. Và có thể, đó là một cách tốt, vì chính Puskin đã hiểu và nói ra trong tiểu thuyết Người da đen của Piốt đại đế rằng: “Người ta muốn nói gì thì nói, chứ một tình yêu không hy vọng và không đòi hỏi gì còn làm cho tâm hồn phụ nữ rung động chắc chắn hơn bất cứ thủ đoạn quyến rũ nào”.

Thời điểm này, người con trai đang thể nghiệm lại cảm xúc của tình yêu ấy. Anh kể cho cô gái nghe về tình yêu không thành của mình với cô bằng giọng thật lành, thật ngọt ngào. Anh sống lại những tình cảm tự nhiên, trong trẻo của ngày ấy và nói ra rát đỗi say đắm:

Tôi đã yêu em âm thầm không hy vọng,

Khi thì hãi, khi thì ghen đã làm tôi mệt lả;

Trạng huống tâm hồn này sở dĩ có được là vì ngay từ đầu, ngay trong tình trạng đáng ngại của mình, nhân vật trữ tình đã vượt lên được: xem tình yêu đã qua trọn vẹn là kỷ niệm đẹp của tâm hồn, nên đã giữ vẹn nguyên sức sống cho tâm hồn, không để nó bị tổn thương. Bài thơ được mở đầu bằng nỗi buồn trong sáng và một thái độ khẳng định dứt khoát trước người mình yêu và đồng thời với chính bản thân mình:

Có thời tôi đã yêu em: tình yêu có lẽ vẫn còn

Chưa tắt hẳn trong lòng tôi đâu;

Nhưng mặc nó, khỏi phiền em phải lo nghĩ nữa;

Thái độ dứt khoát ấy đã khiến cho tình cảm yêu đương chịu khuất phục trước sự quên mình, chuyển cái mãnh liệt trong tình yêu thành sức mạnh quên mình đến kỳ diệu. Anh đã tự giác nén xuống tình cảm say đắm của mình vì sự bình yên của người con gái anh yêu: Tôi không muốn làm em buồn vì bất cứ điều gì cả. Khi anh nói về tình yêu của anh ngày trước, anh đã không nghĩ về mình, mà chỉ nghĩ về nàng. Anh chỉ cảm thấy trìu mến về chuyện tình yêu, chỉ cảm thấy hạnh phúc vì được nói với nàng về tình yêu và tự hào về tình yêu đã có của mình. Anh chúc cho người mình yêu một hạnh phúc tròn đầy: Cầu cho em được những người khác yêu… Đó là trạng thái trong sáng nhất của tâm hồn mà nhà thơ đã tìm thấy được trong những câu thơ này; đồng thời cũng thể hiện một quan niệm cực kỳ đẹp đẽ và cao thượng về tình yêu.

Cả bài thơ không có một hình dung từ mĩ lệ nào. Tất cả là những từ cụ thể, quen thuộc và dễ hiểu nhưng lại đầy quyến rũ về nhạc điệu. Thực ra bài thơ được viết bằng một thể thơ vào loại phức tạp nhất – thể thơ Yambơ năm chân (ít nhất cũng khó như thể thơ Đường luật ở ta). “Điều kỳ tài là ở chỗ toàn bộ bài thơ được tổ chức chặt chẽ mà lời thơ vẫn hoàn toàn tự nhiên. Trong một bức thư Puskin kể: “… Vần điệu đến thăm tôi, tôi nghĩ bằng những câu thơ…”. Nghĩ và nói dường như thẳng và trực tiếp bằng những câu thơ – đó chính là nghệ thuật cao nhất của nhà thơ. Nếu chăm chú quan sát, cảm nhận được vận động nhịp nhàng ấy… rốt cuộc nảy sinh ấn tượng thần diệu thật sự: lời Nga dường như tự nó, một cách tự nhiên, không có một sự cố gắng nào, tuôn chảy đầy nhạc điệu, tiết tấu và rất chặt chẽ. Nhưng đó là tài nghệ không gì so sánh được của Puskin” (Nhận xét của Kôrưnốp).

Có lẽ cần một bản dịch thơ khác thay cho bản dịch của Thúy Toàn để giảng văn ở phổ thông trung học chăng.

LÊ TUẤN ANH

1963 - 2001

- Báo Giáo dục và thời đại, số 14 ngày 1/7/1991

- Sách Cuộc đời và trang viết, Nxb Quân đội nhân dân, 2002; Nxb Văn học, 2005

- Sách Lê Tuấn Anh cuộc đời và trang viết – Nhìn nhận, đánh giá, Nxb Thanh niên, 2006

THỜI CỦA TÌNH YÊU

Về bài thơ Vô đề nổi tiếng của Puskin

Em yêu ơi, em của thời say đắm

Biết bao giờ nguội tắt trong tôi;

Thôi hãy mặc hồn tôi cô độc,

Em buồn ư? Tôi mắc lỗi rồi,

Tôi đã yêu em âm thầm, vô vọng,

Đã mệt hoài do hãi, do ghen;

Tôi đã yêu em chân thành quá đỗi;

Đến nỗi cầu mong ai đó yêu em[*].

(Lê Tuấn Anh dịch)

Tình yêu hiện lên từ cái nhìn ngoái lại, đẹp như một kỷ niêm tốt lành. Có thể đây là một cách bộc bạch kiểu Puskin, thật thà kể cho nàng nghe rằng có thời tôi yêu em thế nào, kiếm một cái cớ hợp lý mà thốt ra những lời “dễ ưa”. Và có thể, đó là một cách tốt. Chính Puskin đã hiểu và nói ra trong tiểu thuyết “Người da đen của Piốt đại đế”: “Người ta muốn nói gì thì nói, chứ một tình yêu không hy vọng và không đòi hỏi gì còn làm cho tâm hồn phụ nữ rung động và chắc chắn hơn bất cứ một thủ đoạn quyến rũ nào”.

Dẫu sao, những lời đầu tiên được thốt ta từ nỗi buồn. Vâng, không đau đớn, dằn vặt nhưng rất buồn. Nỗi buồn thấm vào từng câu thơ. Tâm hồn chàng trai thời điểm này đang xáo trộn không phải vì niềm vui do tình yêu đến, trái lại tình yêu của anh đã làm anh mệt hoài, do hãi, do ghen trong âm thầm, vô vọng. Ai biết cô ấy có yêu anh mà giữ riệt tình yêu nọ trong lòng, hay niềm yêu chưa kịp đến với cô, và những gì đang có thuần túy là những tình cảm khác, có thể là rất quý giá, nhưng đâu thật cần cho anh giây phút này. Chỉ biết cô đã không hề hưởng ứng tình yêu của anh và anh tự ý thức rằng sự bận tâm đến chuyện của anh (đâu phải chuyện chung của cả hai người!) sẽ làm cho cô phải phiền muộn, và anh không muốn điều đó. Hãy để mặc nó, tình yêu riêng của anh! Những sự thật tâm lý này là niềm tin trong tâm thức của anh vào thời điểm ấy, trở thành tiền giả định quan trọng nhất khiến anh thổ lộ theo cách này: ngoái lại tình yêu của một thời, xem nó là kỷ niệm. Không để rơi vào tình huống bẽ bàng, anh có thể nói với nàng tất cả, bằng giọng say mê và thông mình, thật thà và thánh thiện. Giữ cho riêng mình khối tình câm thì khổ lắm! “Nợ tình chưa trả cho ai – Khối tình mang xuống tuyền dài chưa tan”. Chàng Trương Chi Việt Nam đã đi vào huyền thoại như biểu tượng cho một khối tình tuyệt vọng. Nhà thơ trong chàng trai Puskin giỏi hơn!

Phải, thời ấy có thể chỉ mới cách đây một giờ đồng hồ thôi, thậm chí chỉ mấy phút thôi, nếu tính theo thời gian lịch biểu, thời gian chung của mọi người. Nào có quan trọng gì đâu cái “của chung” kia. Cái chính, nó vẫn là một thời khác – thời của kỷ niệm tình yêu, kể theo thời gian tâm lý của riêng anh. Nó đã trôi qua; anh có thể hoàn toàn tự do, tự nhiên nói về nó.

Tôi đã yêu em âm thầm, vô vọng,

Đã mệt hoài, do hãi, do ghen

Những lời nói đáng yêu vì chúng hồn nhiên quá và dường như câu thơ thấp thoáng nụ cười.

Tâm hồn đã không bị tổn thương; sức sống mạnh mẽ của nó vẫn vẹn nguyên. Cho kỷ niệm tình yêu trở nên thiêng liêng đáng lưu giữ mãi trong ký ức.

Đúng là trong đời người ta, có cả những kỷ niệm buồn, là những vết thương lòng mà người ta cần đến bản lĩnh và nghị lực để quên đi. Nhưng cũng có những kỷ niệm tốt lành, nguồn hạnh phúc, thôi thúc người ta sống đẹp. Những câu thơ tuyệt đẹp đã vĩnh cửu hóa trạng thái kiêu hãnh trong sáng của tâm hồn:

Tôi đã yêu em chân thành quá đỗi;

Đến nỗi cầu mong ai đó yêu em.

Vâng, tôi đã yêu em cực kỳ thánh thiện. Còn em cứ tự do. Văn hóa tình yêu đã đưa khoảnh khắc phù du vào cõi vĩnh hằng các giá trị tinh thần cao quý nhất của con người, vĩnh hằng phút giây thần diệu của nỗi buồn trong sáng.

Tình yêu trong cuộc đời và trong sáng tạo của Puskin bao giờ cũng là niềm đắm say kỳ diệu chất chứa sự viên mãn của đời. Đó là niềm say đắm quan trọng nhất, ở mức độ nào đó đại diện được cho mọi niềm say đắm. Có lẽ thế! Thế thì, với bài thơ này, điều đó còn đúng nữa chăng?

Sức quyến rũ, vẻ đẹp mê hồn của bài thơ được sinh ra từ cội nguồn nào vậy? – Phải chăng từ “lòng kiêu hãnh của thời trai trẻ”? – Tôi cho là thế. Cái năm 1829 ấy, khi Puskin viết bài thơ này, chính Puskin đang còn trong “thời hoa đỏ”, “thời yêu đương tha thiết”, “thời trai trẻ” của mình, Puskin 30 tuổi. Trai tuổi 30 có nghĩa đương ở cái tuổi có từng trải, nhưng còn trẻ trung và thời trai trẻ cũng chỉ thêm được mấy năm nữa. Hôm trước ngày cưới vào năm 1831, nhà thơ đã tổ chức “lễ tiễn biệt thời trai trẻ”. Và sâu xa hơn, bài thơ hàm chứa quan niệm này: bản thân kỷ niệm tốt lành về tình yêu đã là hạnh phúc, là khoảnh khắc hạnh phúc hiếm hoi chất chứa tròn đầy cảm giác về sự viên mãn của đời. Bạn ơi, thời của tình yêu có thể là hiện tại, cũng có thể là quá khứ hoặc tương lai. Miễn rằng tốt lành. Có lúc nào đó, nó khơi dậy trong ta nỗi buồn, thì đó là nỗi buồn trong sáng, nâng đỡ tâm hồn ta. Văn hóa tình yêu cho con người của tương lai là ở chỗ này chăng?

Cách đây mấy năm, kỷ niệm đẹp nhất còn lại sau khi tôi giảng bài thơ này cho một lớp sinh viên văn khoa, trong bài làm văn của một nữ sinh trẻ, tôi đã được đọc những dòng văn say đắm: “Yêu và được yêu, đó quả là hạnh phúc. Song, yêu và chỉ có một mình yêu sẽ tạo nên một giai điệu riêng cho hạnh phúc. Âm hưởng riêng biệt và sâu sắc ấy của “Vô đề” đã đánh thức được tất cả: từ một nỗi tuyệt vọng thầm kín giấu trong sâu thẳm tâm hồn đến những khát khao nồng cháy của trẻ trung, từ sự hồi tưởng cao quý đến sự tôn trọng không chỉ cho hôm qua…”. Tôi đã nghe bản tình ca Nga có giai điệu thật đẹp đẽ và truyền cảm, rất hợp với lời thơ và nhạc điệu của bài thơ Puskin. Giai điệu bài ca thể hiện được tính chất thầm kín thiêng liêng, tiếng của trái tim đến với trái tim, sự bồi hồi da diết khó tả, nỗi buồn say đắm và cảm giác hạnh phúc tròn đầy. Bản nhạc dường như đã làm đẹp thêm bài thơ vốn dĩ đã rất đẹp ấy. Nhân đây, tôi xin nói thêm rằng, riêng về nhạc điệu của bài thơ, ở Nga đã có công trình nghiên cứu công phu và sâu sắc của Korưnôp. Ở Nga, người ta đánh giá rất cao bài thơ này, sách giáo khoa văn lớp 8 nhận định: “tác phẩm trữ tình nhỏ này chứa đựng những giá trị tinh thần của toàn nhân loại”; “Chỉ riêng nó thôi cũng đủ gọi Puskin là nhà thơ vĩ đại”.

Hà Nội, tháng 4/1992-5/1995

LÊ TUẤN ANH

1963 - 2001

- Tuần báo Văn nghệ số 52(2189), ngày 29/12/2001.

Bài đăng để tưởng nhớ, tiếc thương nhân 100 ngày

Lê Tuấn Anh ra đi vào cõi vĩnh hằng

- Sách Cuộc đời và trang viết, Nxb Quân đội nhân dân, 2002; Nxb Văn học, 2005

- Sách Lê Tuấn Anh cuộc đời và trang viết – Nhìn nhận, đánh giá, Nxb Thanh niên, 2006


[*] Về bài thơ này, trên báo Giáo dục và thời đại số 14 ngày 1.7.1991 với bài “Về một bài thơ trữ tình nổi tiếng của Puskin được giảng ở PTTH”, tôi đã dịch nghĩa bài thơ từ nguyên bản tiếng Nga (in trong cuốn “Puskin – thơ trữ tình”, Nxb Văn học nghệ thuật Maxcơva 1983, trang 177) và phát biểu ý kiến về bản dịch thơ của dịch giả Thúy Toàn.