Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Nhớ Hoàng Ngọc Hiến

Giáp Văn Dương
Tôi kém anh Hiến gần năm chục tuổi. Như vậy, lẽ ra tôi phải gọi anh bằng ông mới đúng. Nhưng tôi vẫn gọi anh Hiến bằng anh, và anh cũng khuyến khích tôi như thế, bất chấp sự phản đối ra mặt của vợ anh, chị Tố Nga.
Mọi chuyện, kể từ cách xưng hô, đến những trò chuyện sau này với anh, đều bắt đầu từ cuộc Hội thảo hè năm 2009, tổ chức tại Paris, ngày 26-28/8, mà tôi và anh đều tham dự.
Trong hội thảo này, anh Nguyễn Ngọc Giao, một thành viên ban tổ chức, đề nghị tất cả cứ gọi nhau là anh/chị và xưng tôi cho bình đẳng. Vậy nên, mọi người đều xưng hô như thế. Một vài người, chủ yếu là sinh viên trẻ, gọi các anh chị lớn tuổi là chú/bác, xưng cháu, liền bị anh Giao chỉnh ngay.
Một trong những câu nói nổi tiếng nhất của anh:“Cái nước mình nó thế!”, tôi đã nghe, đã dùng, nhưng không biết tác giả là anh. Lý do là tôi với anh không cùng chuyên môn, lại quá chênh lệch tuổi tác. Tôi học khoa học tự nhiên, còn anh lại bên xã hội, nên hầu như không có điểm gì chung. Chỉ đến khi anh Nguyễn Ngọc Giao trong một lần nói: “Cái nước mình nó thế, chữ của anh Hoàng Ngọc Hiến”, tôi mới giật mình. Từ lúc đó, tôi bắt đầu quan sát anh. Rất may, anh ngồi ở bàn đầu, nên việc này rất tiện.

Điều đầu tiên tôi nhận thấy là anh ăn mặc khá cọc cạch: nửa trên jacket, nửa dưới quần âu, chân đi giầy thể thao cũ (luôn có một ống quần vướng vào giầy nên có cảm giác như quần nửa sắn nửa buông). Tôi nhíu mày: Thêm chiếc mũ cối nữa thì hoàn hảo.
Tôi ghét mọi thứ cọc cạch, nên dù đã biết anh là một học giả uyên bác được nhiều người kính trọng, tôi cũng không có ý đến làm quen.
Điều thứ hai tôi nhận thấy là anh rất thích gật gù. Không có lý do gì để gật gù cũng gật gù ra chiều tâm đắc lắm. Ban đầu tôi thấy điều đó thật phản cảm. Tôi không thích kiểu gật gù ba phải như vậy. Nhưng sau để ý kỹ hơn thì thấy dường như anh gật gù với chính anh hơn là với những điều người khác nói.
Giờ nghĩ lại thì có lẽ đấy là cách “gật gù minh triết” của anh, cái gật gù của kẻ “đại trí như ngu”. Có thể trong thời tao loạn, những cái gật gù này đã có ít nhiều tác dụng, nên anh mới sử dụng đến mức thành quán tính hồn nhiên chăng?
Chỉ khổ cho ai thấy anh gật gù mà tưởng bở.
Bài phát biểu của anh không nằm trong chương trình dự kiến, cũng không thực sự ấn tượng. Anh mở đầu rằng từ lâu anh đã có ý muốn tham gia Hội thảo hè, “dự thính thôi cũng được”. Vì thế, nhân dịp sang Paris mời một nhà triết học sang dự hội thảo về minh triết, anh tham gia hội thảo và tranh thủ trình bày một cách vắn tắt về Minh triết Việt. Sau đó anh bắt đầu trình bày.
Anh nói chậm, có vẻ khó khăn. Không có máy chiếu nên rất khó theo dõi. Anh Nguyễn Ngọc Giao thấy vậy liền ghi lại những ý chính lên bảng cho khán giả đọc. Đại ý: Việt Nam ta trước có tam giáo đồng nguyên thì nay có “lục giáo”, đó là: Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, Thiên chúa giáo, Chủ nghĩa Marx-Lenin và Khoa học. Anh nhấn mạnh: Khoa học cũng cần phải được coi như một giáo và khẳng định: Lục giáo nói trên chính là “đa nguồn Minh triết Việt”. Ngoài ra, Minh triết Việt còn có ở trong các dân tộc thiểu số nữa, ví dụ: Đồng bào Tây Nguyên nói “Đàn ông là sấm, đàn bà là sét”, đó chính là minh triết. Và trong thời đại Hồ Chí Minh còn có “Minh triết Hồ Chí Minh”.
Anh kết thúc bài nói bằng việc mời mọi người tham gia cuộc hội thảo Minh triết sẽ được tổ chức trong thời gian tới, và giới thiệu bài viết “Luận bàn về những vấn đề Minh triết”, dài 24 trang A4 (anh nhấn mạnh chữ 24 trang A4, nhưng bản đánh máy sau này tôi nhận được chỉ có 17 trang), ai quan tâm thì anh sẽ gửi qua e-mail.
Tôi chăm chú lắng nghe.
Tôi thấy bài nói của anh như một nồi lẩu.
Vậy mà tôi và anh lại bắt được sóng của nhau. Anh bắt được “hạ tầng tư duy” trong bài nói của tôi (anh cho rằng hạ tầng tư duy chính là minh triết), còn tôi bắt được “Minh triết Việt” trong bài nói của anh. Tôi không đồng tình với việc hiểu hạ tầng tư duy là minh triết, nên có trao đổi lại với anh, cũng hơi gắt.
Sau đó, anh mời tôi tham gia hội thảo minh triết sẽ sớm tổ chức ở Hà Nội. Tôi nói rằng không thể về dự được, nhưng sẽ gửi bài ủng hộ. Anh cũng mời tôi khi nào về thì đến thăm Trung tâm Minh triết Việt của anh. Tôi nhận lời…
Đến giờ ăn trưa, khi mọi người còn đang loanh quanh bàn chuyện đi ăn món gì, ở đâu, thì anh Hà Dương Tường, khi đó đang đứng gần tôi, nói: “Ông Hiến chưng cái món này ra thì bán cho ai? Tụi trẻ bây giờ chúng nó đâu có quan tâm”.
Đúng là tụi trẻ, và cả tôi, cũng không quan tâm những điều anh nói. Nhưng tôi thực sự ấn tượng với cụm từ “Minh triết Việt” của anh, dù những gì anh nói về nó, tôi thấy vẫn lộn xộn như một nồi lẩu bình dân.
Một lát sau, khi mọi người đã bắt đầu tản ra theo các hướng khác nhau, tôi nhìn quanh, thấy anh vẫn đứng chơ vơ, chưa biết đi đâu. Tôi liền đến gần mời anh đi cùngtôi, ăn món Tây. Cái gì đó nhẹ nhàng. Anh nhận lời ngay.
Đến nhà hàng, khi tất cả đã yên vị, tôi lấy thực đơn cho anh xem và ngỏ ý muốn mời anh. Anh xem và gật gù “Ừ…Ừ”, nhưng không chọn món gì cụ thể. Anh hỏi tôi chọn món gì, tôi đáp: “Em chọn rượu vang đỏ, mỳ Ý, salad và hoa quả tráng miệng”. Anh bảo anh cũng gọi như vậy cho dễ. Hai anh em cười xòa.
Từ đó tôi và anh giữ liên lạc qua e-mail.
Rồi cũng đến ngày tôi về Hà Nội. Dịp này, tôi có làm một seminar nhỏ ngày 4/12/2009 ở 53 Nguyễn Du với chủ đề “Hạ tầng mềm & Việt Nam – Những bài toán lớn”. Tôi gọi điện mời anh tham dự. Anh vui vẻ nhận lời và đến dự thật.
Giờ nghỉ giải lao, anh đến động viên và bảo: Ban đầu anh tưởng cái gì đó về phần mềm máy tính, sau khi biết không phải, anh đã bảo mọi người trong trung tâm Minh triết Việt của anh đến dự cùng, khá đông đủ. Rồi anh mời tôi sáng hôm sau, Thứ 7, đến nhà anh chơi và gặp gỡ với các anh chị ở Minh triết Việt, sau đó đi ăn chả cá, “có một hàng ở gần nhà anh, ngon lắm”. Tôi vui, và tất nhiên là nhận lời.
Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, tôi đi taxi đến nhà anh. Trước đó anh đã dặn: "Nhà anh ở trong ngõ, khó tìm, nên khi sắp đến nơi thì gọi trước cho anh, anh sẽ ra đón". Tôi làm theo. Quả nhiên, anh ra tận đầu ngõ đón. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy anh, một cách hồn nhiên, cầm tay tôi mà đi dung dăng dung dẻ vào nhà. Có lẽ từ khi học cấp II tới giờ, tôi chưa được, hoặc bị, một người đàn ông nào cầm tay mà đi dung dăng dung dẻ giữa đường thế này. Tôi để yên cho anh dắt đi, ngạc nhiên thú vị, theo anh vào nhà.
Tôi nhìn quanh, thấy trên tưởng có một bức tranh ngựa. Chị Tố Nga vợ anh, tóc đã bạc gần hết nhưng vẫn còn phảng phất nét đẹp thời son trẻ, lúc đó cũng từ phòng trong đi ra. Chị không ngồi cùng bàn nước với chúng tôi mà ngồi cách xa một đoạn, dưới bức tranh. Thấy tôi gọi anh Hiến bằng anh, chị khó chịu ra mặt, luôn xen ngang nhắc nhở: “Ông này năm nay 80 tuổi”. Tôi cười.
Chị chỉ bức tranh ngựa: “Ông Hiến tuổi Ngọ, nên được vẽ tặng bức tranh ngựa”. Rồi chị lại tranh thủ nhắc tôi: “Ông này năm nay 80 tuổi”. “Cậu bao nhiêu tuổi?”. Tôi lại cười, gọi anh Hiến bằng anh như cũ.
Chuyện trò được vài câu, anh đứng dậy đi lại giá sách, lấy cuốn “Hoàng Ngọc Hiến│Tác phẩm chọn lọc”, rồi lấy bút đề tặng tôi, không quên kẹp theo một tấm danh thiếp. Đổi lại, tôi cũng tặng anh tờ báo Tiền Phong tôi mới mua ở đầu ngõ, có lược thuật bài seminar của tôi chiều hôm trước.
Tôi cầm tấm danh thiếp của anh, thấy ghi phía trên là: “Trung tâm nghiên cứu và truyền bá Minh triết Việt”, ở giữa ghi “Dr: Hoàng Ngọc Hiến, Chủ tịch hội đồng khoa học”. Nhìn xuống địa chỉ liên lạc là nhà riêng và địa chỉ email ở yahoo. Lẽ ra như lần gặp trước, tôi đã nhíu mày khó chịu vì sự bất nhất cọc cạch này. Nhưng lần này thì không. Tôi chỉ băn khoăn hỏi: “Vậy văn phòng Trung tâm Minh triết Việt đặt ở đâu anh?
Anh nhìn tôi mà như không nhìn: “À, đặt tạm ở nhà anh Mai”. Rồi không chờ tôi phản ứng, anh bất ngờ hào hứng: “Có giấy phép chính thức rồi. Như vậy là “Nhà đỏ” có quan tâm”. Anh nhấn mạnh chữ “Nhà đỏ”, vừa hào hứng, vừa bí hiểm. Rồi anh kể những buổi thuyết trình của anh cho “Nhà đỏ” nghe. “Nói hết cả rồi”. Tôi lần đầu tiên nghe thấy chữ “Nhà đỏ”, không khỏi liên tưởng đến “Nhà trắng”, định hỏi anh “Nhà đỏ” cụ thể là ai cho rõ, nhưng thấy mặt đang anh sáng lên, hồ hởi như trẻ nhỏ được kẹo, nên thích thú ngồi lặng yên nghe anh nói.
Một lát sau, anh Nguyễn Khắc Mai đến. Dù đã gặp anh Mai ở buổi seminar, nhưng hôm nay tôi mới được anh Hiến giới thiệu anh Mai là Giám đốc Trung tâm Minh triết Việt. Ba chúng tôi trò chuyện với nhau khá vui vẻ. Chị Tố Nga thỉnh thoảng lại nhắc nhở: “Ông này năm nay 80 tuổi, còn ông này 78”. Tôi lại cười và vẫn cứng đầu gọi anh Mai, anh Hiến như cũ. Tiện thể, tôi gọi luôn chị Tố Nga là chị cho đồng bộ.
Từ khi anh Mai đến, chúng tôi bắt đầu nói chuyện về Minh triết. Thấy vậy, chị Tố Nga hỏi tôi có tham gia hội thảo về minh triết ở Huế tháng trước không. Tôi đáp: “Không, em tiếc quá không về kịp tham dự được”. Chị nhìn tôi, nghiêng một góc 15-20 độ, có vẻ hơi bực: “Thế thì phí quá. Cuộc chơi minh triết ở Huế tưng bừng lắm. Hội thảo xong còn lên chùa nữa. Cậu không về được thì phí!”.
Tôi hơi ngạc nhiên về sự sẵng giọng của chị, nhưng thực sự bất ngờ về cách chị gọi “cuộc chơi minh triết”. À, ra thế! Minh triết với các anh chị là một cuộc chơi. Và điều thú vị mà tôi khám phá ra là vai trò của chị trong công việc của chồng mình. Dù không lộ diện, nhưng dường như chị tham gia rất nhiệt tình vào các “cuộc chơi” của anh Hiến. Tôi không biết vai trò thực sự của chị là gì, nhưng bỗng hình dung đến các cuộc đấu bóng bầu dục ở Mỹ, trước mỗi cuộc đấu thì các hoạt náo viên xinh đẹp thường cổ vũ đội nhà bằng nhiều màn khuấy động sôi nổi. Nhiều người còn thích xem các màn biểu diễn này hơn cả phần thi đấu chính của các cầu thủ.
Nếu cầu thủ thi đấu không được như ý, rất có thể thì sẽ bị hoạt náo viên cằn nhằn, “mắng mỏ”.
Một lát sau, chị đi vào phòng trong, không rõ là để mấy anh em tôi tiện nói chuyện, hay vì bực mình chuyện tôi không biết cách xưng hô, cứ “anh Hiến, anh Mai”, dù đã được nhắc nhở nhiều lần.
Thấy vậy, để phòng xa, tôi trình bày: “Em rất lúng túng chuyện xưng hô. Theo các anh thì xưng hô thế nào là tốt nhất? Phải thống nhất thì mới có thể nói chuyện thoải mái được. Chị Nga có vẻ không thích em gọi các anh là anh….” Anh Hiến nói ngay không cần nghĩ: “Không sao!”. Anh Mai cũng đồng ý nên tôi đã thấy thoải mái hơn, nhưng vẫn không quên chốt lại: “Vậy là từ bây giờ em chính thức gọi các anh là anh nhé!”.
Anh Hiến “gật gù minh triết”. Anh Mai đưa tay lên túi ngực, lấy ra một mảnh giấy nhỏ, rủ rỉ nói:
“Dương này, anh chép tặng em bài “Cự Ngao Đới Sơn” của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, bài mà hôm qua anh nói đấy”.
Đúng là trong chiều qua, khi bàn về tranh chấp biển Đông, mà theo tôi là một trong những bài toán lớn Việt Nam phải đương đầu, anh Mai có đưa ra lời bàn rằng: “Dường như chuyện này cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã có tiên liệu từ 500 năm về trước, trong bài Cự Ngao Đới Sơn”, rồi đọc:
Vạn lý Đông minh quy bả ác
Ức niên nam cực điện long bình
Anh mở tờ giấy chép tay ra, đọc từng câu, cẩn thận giải thích ý nghĩa từng chữ cho tôi nghe, rồi lấy bút đề: “Thân mến biếu Giáp Văn Dương, kỉ niệm cuộc trò chuyện ở nhà anh Hiến, 5-12-2009, Nguyễn Khắc Mai”.
Một lát sau thì chị Hoàng Thị Thơ, ở Viện Triết học, đồng thời cũng là một thành viên của Trung tâm Minh triết Việt, đến. Chào hỏi xong, việc đầu tiên chị làm là đi vòng ra sau ghế anh Hiến, buộc lại chiếc khăn mu-soa ở cổ anh cho ngay ngắn lại. Cử chỉ hết sức tự nhiên, như bà mẹ buộc lại khăn cho một em bé nhỏ. Anh Hiến cũng không phản ứng gì. Dường như chị đã làm việc này nhiều lần rồi thì phải.
Lúc gặp anh ở đầu ngõ, thấy anh chân đi dép lê, cổ đeo khăn mu-soa, vẫn cọc cạch như hôm nào, nhưng tôi không thấy phản cảm nữa. Nay thấy chị Thơ hồn nhiên buộc lại khăn cho anh, tôi có thoáng ngạc nhiên thú vị. Anh đeo khăn mu-soa ở cổ rõ ràng không phải để ăn diện như mấy người khác tôi đã thấy. Nhưng lúc đó tôi cũng không nghĩ gì sâu xa hơn. Mãi sau này tôi mới biết anh không chịu được lạnh ở cổ.
Vừa uống trà, vừa trò chuyện... Chúng tôi nói về đủ thứ.
Được khoảng một tiếng thì chị Thơ nói có hẹn nên về trước. Ba chúng tôi trò chuyện thêm một lát, rồi tính chuyện đi ăn chả cá. Chị Nga ở nhà, không đi.
Anh Mai gần 80 tuổi mà đi xe máy vẫn rất vững. Anh đi chiếc cup 82, biểu tượng của một vầng hào quang trước đó. Còn nhớ, chiếc cup 82 đã từng là niềm mơ ước của biết bao nhiêu người. Năm 1994, ông bác tôi dốc toàn bộ tài sản mua được một chiếc cũ mà giá đã hơn 5 cây vàng. Đến nay đã gần 20 năm, bác vẫn đi chiếc xe cúp ấy và vẫn không giấu nổi niềm tự hào mỗi khi nhắc đến nó.
Quán ăn mà chúng tôi đến là một quán chả cá ở đường Giảng Võ, cách nhà anh Hiến chừng mười lăm phút đi bộ. Anh Mai xe máy đi đến trước, tôi và anh Hiến thủng thẳng đi bộ đằng sau. Anh lại cầm tay tôi dung dăng dung dẻ. Tay anh nắm rất chặt.
Chúng tôi tấp tểnh qua đường. Một già một trẻ cầm tay nhau giữa một dòng người xe xuôi ngược ngược xuôi.
Chúng tôi chọn một bàn gần cửa, nhìn thẳng ra đường. Anh Hiến giới thiệu: “Đây là hàng chả cá duy nhất ở Hà Nội bán cá Lăng Việt Trì. Những hàng khác chỉ toàn dùng cá quả”. Rồi anh gọi bia và lạc rang. Chúng tôi nhâm nhi trong khi chờ đợi.
Nhìn qua thì hàng chả cá này, kể cả cách sắp xếp, phục vụ, không có gì đặc biệt. Vẫn là cá, thì là, hành, bún, mắm tôm… và bếp ga đang sôi mỡ. Nhưng khi đặt miếng chả cá lên miệng, ngay lập tức, tôi biết đây là món chả cá ngon nhất tôi đã từng ăn. Ngay cả mắm tôm ở đây cũng rất đặc biệt, có ánh đỏ và không nặng mùi như ở những nơi khác. Tôi khen cá và mắm tôm ngon lạ, anh gật gù “Đúng đúng, mắm tôm ở quán này rất ngon”.
Xong, chúng tôi chuyển sang một bàn khác sát cửa để uống trà. Câu chuyện về minh triết lại tiếp tục. Khi anh Hiến nói về đa nguồn minh triết, tôi buông lửng: “Trước khi có đa nguyên chính trị, phải có đa nguyên tư tưởng làm nền”. Anh như giật mình, choàng tỉnh “Đúng quá!”. Lần này thì tôi biết anh nói thật, chứ không phải nói như một thói quen.
Tôi hỏi anh: “Trong Lục giáo vừa nói, anh chú trọng đến giáo nào nhất?”. Anh nhìn tôi: “Mình phải có trọng tâm là một nguồn, đó là… nhưng không được nói ra. Phải để đa nguồn cho bình đẳng, nhưng vẫn phải có trọng tâm”. Tôi cười, vậy là đúng như tôi dự đoán.
Trà đã cạn. Bóng trưa đã ngả sang chiều. Ngoài kia dòng người xe vẫn tấp nập ngược xuôi xuôi ngược. Ba chúng tôi nhìn ra ngoài đường trầm ngâm không nói…
Rồi cũng đến lúc phải chia tay. Có quyến luyến, có hẹn hò như bao cuộc chia tay khác.
Sau này, qua e-mail, nhắc lại bữa chả cá hôm đó, anh viết: “Còn chả cá là còn minh triết”. Tôi nghĩ anh đúng.
Dịp sinh nhật lần thứ 80 của anh, Khoa Viết văn của Đại học Văn hóa tổ chức một hội thảo khoa học để mừng anh. Tôi gọi điện chúc mừng. Anh bảo anh vui, “Có nhiều bài gửi về. Không ngờ anh được vẽ chân dung khác quá”. Anh hồ hởi kể, có lúc như hụt hơi. Tôi cười, anh lại đúng nữa.
Ngày nghe tin anh ốm, tôi gọi điện hỏi thăm, đầu dây đẳng kia chị Tố Nga như sắp khóc: “Ông ấy bị ung thư, cắt nửa mét ruột. Các giáo sư, viện trưởng đến thăm hết rồi. Không ai bỏ rơi ông ấy cả”. Sau đó, tiếng sụt sịt như to dần.
Hai ngày sau, tôi nghe tin anh mất.
Cái hẹn của tôi với anh vẫn còn buông lửng.
Giờ nhớ về anh, bất giác tôi hình dung cảnh tôi với anh ngồi uống trà như hôm nào. Tôi nói: “Đời là cõi tạm”. Anh gật gù minh triết “Đúng đúng”, rồi đi.
Tôi lặng nhìn theo anh, khi chiều đã đổ bóng xuống hoàng hôn đỏ rực.
---
Tái bút 1: Ngày 5/4, nhân chuyến về Hà Nội công tác, tôi đến thăm anh. Biết tính anh đơn giản nên tôi cũng chẳng cầu kì, chỉ mua một bó hoa. Anh nhìn tôi, môi hơi mím, không ra cười, cũng chẳng ra giận. Chị Nga đứng bên cạnh, chắp tay yên lặng.
Trò chuyện với anh xong, tôi ra bàn uống trà với chị. Câu đầu tiên chị nói với tôi, rất to và giận dữ: “Thế là hết! Ông ấy chết mà có biết mình chết đâu. Đi cấp cứu mà còn chuẩn bị từ điển và giày thể thao, rồi đi bộ ra xe. Cứ tưởng mình đi chữa dạ dày, có biết là đi cấp cứu đâu…”
“Ông ấy bị chết oan. Tại bệnh viện Việt-Xô dốt quá. Ung thư mà cứ bảo dạ dày, điều trị mấy tháng trời. Nếu ở Singapore thì không chết. Ngô Thảo đi Singapore khỏi rồi. Tại Việt-Xô kém quá, nếu đi Singapore thì không chết!”…
Chị nói liền một mạch không ngừng nghỉ. Tôi yên lặng nghe. Rồi sau, chị hỏi tôi đọc được tin anh ốm và mất ở đâu, trên báo nào, có phải trên viet-studies không? Tôi đáp: “Vâng, nhưng tin anh ốm em đọc đầu tiên trên Thể thao & Văn hóa…”. Mắt chị long lên giận dữ…
Tôi nhấc chén trà lên, rồi lại đặt xuống. Chị gọi người mang hạt điều ra. Rồi cả bánh đậu xanh. Chị nói, tôi im lặng nghe, im lặng uống một mình. Nhiều lúc bỏ lễ, tự tiện rót cho mình.
Chị bảo, bạn bè viết về ông ấy nhiều lắm, sắp ra sách rồi. Tôi trầm ngâm: “Em cũng viết, nhưng không đăng ở đâu, em định sẽ gửi cho gia đình đọc, chỉ như chia sẻ chuyện trong nhà”.
Chị nửa vui mừng, nửa trách móc: “Sao cháu không gửi sớm để in, sao không mang đến thắp hương ông ấy?”.
“Em không phải dân văn triết, lại cũng có vài nhận định riêng tư về anh, nên chỉ để mình biết và chia sẻ với gia đình”. Chị bảo tôi kể một vài chi tiết… “Vâng, thì chuyện em gặp anh ấy ra sao; cảm nhận ban đầu thế nào; vì sao từ dửng dưng lại chuyển thành quý mến; rồi chuyện đi ăn chả cá; chuyện trao đổi về minh triết…” “Ừ, thế thì người ngoài không biết được. Các cháu nhà tôi cũng không thích cậu gọi ông ấy bằng anh, đứa lớn 45 tuổi rồi…”. Rồi chị hỏi thăm gia cảnh tôi, rằng sinh năm nào, vợ con thế nào, thu nhập ra sao…, toàn chuyện riêng tư, nên câu nào trả lời được thì tôi trả lời, câu nào không thì chỉ ngồi cười. Không chịu thua, chị xoay sang phán đoán rồi bảo tôi xác nhận. Tôi lại cười.
Khi biết vợ tôi ở nhà chăm sóc gia đình, chị đang ngồi nghe bỗng rướn thẳng người gắt gỏng như quát: “Sao cậu ích kỷ thế!”. Tôi thanh minh: “Đây là lựa chọn của bọn em trước khi lấy nhau”. “Ừ, thế thì được”.
Chị lại khuyên tôi cũng phải thực tế, đừng có về: “Về là chết, không nuôi nổi vợ con đâu”. Rồi lan man sang đủ thứ chuyện. “Cũng lạ, học trò ông ấy nhiều, nhưng người trẻ chơi bời thân thiết như cậu thì ít lắm. Ai đến ông ấy cũng đưa bài của cậu ra cho đọc. Mà ông ấy thiêng lắm, ông ấy phù hộ cho cậu đấy”… Tôi chưa biết anh Hiến sẽ phù hộ tôi việc gì, nhưng nghe chị nhắc đi nhắc lại như thế, tôi chỉ biết cười xòa.
Trên bàn, có mấy lon bia. Bên cạnh là chiếc đồng hồ nhỏ. Tôi biết là đã quá giờ, nên thỉnh thoảng lại kín đáo nhìn đồng hồ. Không rõ có phải vì vậy mà thỉnh thoảng chị lại nhắc: “Em uống bia đi”. Lúc đó tôi không nghĩ ra vì sao chị lại nhắc như thế. Giờ nghĩ lại không khỏi phì cười.
Chị đứng dậy, lọc cọc đi ra bàn thờ, lấy tập bản thảo cuốn “Hoàng Ngọc Hiến trong mắt bạn bè” đưa tôi đọc, rồi lại trách tôi sao không gửi bài sớm để in. Tôi hỏi vậy bây giờ em gửi có kịp không, chị bảo không kịp, lên bông rồi. Tôi nói cũng không sao, để em gửi cho chị đọc vậy.
Câu chuyện càng lúc càng thân mật: Chuyện của tôi, chuyện của anh, chuyện công việc, chuyện gia đình… Những chuyện “thường ngày ở huyện”, muôn màu muôn vẻ khác cũng không ngoại lệ.
Chị lại bóc một chiếc bánh đậu xanh, ép tôi ăn: “Em ăn đi, sẽ giải hạn cho em đấy”.
Tôi biết muộn nhưng mặc kệ. Lỡ chuyến bay là cùng chứ gì. Nhưng cũng chỉ được một lúc sau, có tiếng người gọi rõ to: “Về thôi cháu ơi!”. Chị ngạc nhiên nhìn tôi: “Em đến đây bằng gì?” “Em về Hà Nội chỉ có một ngày, trưa nay sẽ về lại Singapore. Mà nhiều việc quá, nên gia đình khuyên đi xe ôm để tránh tắc đường”. Tôi nhìn đồng hồ: “Lẽ ra giờ này phải ở sân bay rồi, nhưng thôi kệ. Chắc ông xe ôm chờ ở đầu ngõ sốt ruột quá nên gọi”.
“Thôi thả cho cậu về…”.
Nhưng người thả cũng chưa vội thả, mà người về cũng chưa vội về, nên từ lúc “thả cho cậu về…”, câu chuyện còn kéo dài thêm một đoạn nữa.
Chị tiễn tôi ra cửa. Tôi bước xuống mảnh sân nhỏ, quay lại nói như thanh minh: “Lần này em về gấp quá. Lần sau em sẽ ở chơi với chị một buổi”.
Chị ôm vai tôi, rưng rưng như khóc. Tôi bước ra cổng, chị trở lại nhà, không quên nhắc: “Nhớ thêm cho ông ấy 5 nghìn…”.
Tôi bước đi. Trời lạnh và phảng phất mưa.
Tái bút 2: Hôm nay (03/05/), khi gọi điện cho chị Nga, chị nói, to và hơi gắt: “Người ta định tặng thưởng cho ông ấy. Nhưng ông ấy chết rồi còn đâu! Ông ấy chẳng nhận được gì chính thức của nhà nước cả”. Tôi cười, an ủi: “Như thế lại hay, chị ạ”.
Singapore, 03/05/2011.
Lời cảm ơn: Xin cảm ơn chị Hoàng Tố Mai – con gái thứ hai của anh Hiến - đã đọc bản thảo và cho những góp ý quý giá về một số chi tiết trong bài viết này.
./.
---
Ghi chú: Bài này đã được sửa lại một số lỗi đánh máy và bổ sung một vài chi tiết nhỏ so với bản đăng lần đầu.