Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Sửa PhD

Khi tấm bằng tiến sỹ không còn là tấm vé đảm bảo cho sự nghiệp học thuật, cần phải xem xét lại hệ thống đào tạo tiến sỹ một cách nghiêm túc.
Thế giới còn tồn tại những vấn đề cần đến trí óc của rất nhiều người thông minh và được đào tạo bài bản tham gia gải quyết. Vậy nên, nếu nhìn thoáng qua, việc ngày càng nhiều người trở thành tiến sỹ các ngành khoa học, công nghệ và kỹ thuật là một điều có lợi. Đa số quốc gia đang mở rộng chương trình đào tạo tiến sỹ trong khoa học, với niềm tin rằng giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học sẽ là chìa khóa cho sự phát triển kinh tế và mang đến thịnh vượng. Một nhà nghiên cứu về xu hướng đào tạo bậc tiến sỹ đã ví von “đào tạo tiến sỹ như thể trồng nấm”.

Thành quả của việc “trồng nấm” này lại phụ thuộc vào địa điểm và ngành nghề, như chúng tôi đã đề cập trong một bài viết về tổng quan hệ thống tiến sỹ thế giới[i]. Rõ ràng là việc mở rộng đào tạo tiến sĩ sẽ mang lại nhiều kết quả nghiên cứu tốt hơn[ii]. Ở những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển nhanh, thường được ví như những nền kinh tế con hổ, hầu hết những người sở hữu tấm bằng tiến sỹ dễ dàng tìm được việc làm thích hợp.
Tuy nhiên, có những lý do khiến chúng ta phải thận trọng. Việc mở rộng qui mô đào tạo tràn lan có thể làm giảm chất lượng tiến sỹ do việc tuyển chọn cả những cá nhân kém khả năng hơn vào chương trình. Tiếp chuyện với những nhà nghiên cứu y sinh học ở Mỹ và Nhật cho thấy một bức tranh tương lai có phần ảm đạm. Những tiến sỹ thực sự xuất sắc, tốt nghiệp từ những cơ sở giáo dục hàng đầu phải chật vật vượt qua 5 năm cho đến 10 năm làm nghiên cứu hậu tiến sỹ với mức lương khiêm tốn. Họ bớt dần ảo tưởng khi đối diện với cuộc chiến tàn khốc, và thường không kết quả, để giành lấy một suất biên chế. Đó là hậu quả của việc chính phủ Mỹ và Nhật, thông qua Viện Quốc gia về Sức khỏe của Mỹ hay Bộ Khoa học và Giáo dục của Nhật, tăng đầu tư để mở rộng đào tạo tiến sỹ và hậu tiến sỹ nhưng không nghĩ đến việc làm cho những người này. Guồng máy được vận hành bởi nguồn trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu, chứ không phải nhu cầu của thị trường lao động.
“Những trăn trở về công ăn việc làm đã làm nản lòng nhiều ứng viên sáng giá khi họ đứng trước lựa chọn nên hay không nên đi theo con đường làm tiến sỹ.”
Vấn đề này cũng đã được thảo luận rộng rãi. Tuy nhiên nhiều chương trình đào tạo tiến sỹ vẫn theo nếp cũ- đào tạo ra những nhà nghiên cứu bất chấp thực tế nhu cầu trong các trường đại học hoặc viện nghiên cứu đã giảm. Phải thừa nhận rằng có rất nhiều ngành nghề đáng giá cho những tiến sỹ ngoài con đường học thuật. Và hầu hết những người đã có bằng tiến sỹ về khoa học cuối cùng cũng sẽ tìm được công việc phù hợp. Nhưng có lẽ những người này sẽ cảm thấy dành nhiều năm thực tập trong phòng thí nghiệm không phải là cách hiệu quả để trở thành một giáo viên hay nhân viên ngân hàng tương lai. Những trăn trở về công ăn việc làm đã làm nản lòng nhiều ứng cử viên sáng giá khi họ đứng trước lựa chọn nên hay không nên đi theo con đường làm tiến sỹ.
Cần phải có một sự thay đổi- nhưng thay đổi gì? Lý tưởng nhất là đào tạo ra những tiến sỹ có chất lượng cao tương xứng với một sự nghiệp học thuật hấp dẫn. Thế nhưng nhiều cơ sở đào tạo vẫn trì hoãn việc thay đổi khi họ còn được nhận trợ cấp nghiên cứu (để thuê nghiên cứu sinh với giá rẻ) và vẫn có bài đăng báo (do những nghiên cứu sinh giá rẻ làm). Các trường đại học, thường được chính phủ trả tiền để đào tạo tiến sỹ cũng ở trong tình huống tương tự.
Các chính phủ có thể thay đổi thực trạng này bằng cách khiến nguồn cung đào tạo và nguồn cầu việc làm tương xứng với nhau. Chính phủ nên đề nghị những nhà nghiên cứu độc lập và có năng lực trong lĩnh vực kinh tế học lao động phân tích số liệu về lương và việc làm, từ đó xác định những công việc liên quan đến khoa học đang thiếu nguồn nhân lực, và thảo luận với giới doanh nghiệp về kết quả của những phân tích này. Căn cứ vào đó, chính phủ chỉ nên cho phép đào tạo nhiều tiến sỹ hơn ở những lĩnh vực cần họ nhất. Những phân tích như thế này đã đang được tiến hành, và nên được khuyến khích.
Cách thứ hai là cải cách chính hệ thống đào tạo tiến sỹ, điều chỉnh lại kỳ vọng của những người đang ở trong đó. Hãy tưởng tượng, những người trẻ tuổi thông minh sẽ tham gia vào một hệ thống đào tạo tiến sỹ mới, ở đó cả họ và giáo sư hướng dẫn đều xác định từ đầu: khi tốt nghiệp họ sẽ có cơ hội làm việc trong những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng - hệ thống công chức, kinh doanh, tổ chức phi lợi nhuận và giáo dục- và hướng đến mục tiêu này. Nghiên cứu sinh sẽ làm việc với các giáo sư từ nhiều ngành khác nhau; họ học các kĩ năng quản trị, giao tiếp, lãnh đạo cũng như các kĩ năng khác song song với chương trình đào tạo truyền thống về phát triển tư duy phân tích và phê phán; họ sẽ thực tập ở nước ngoài từ sáu tháng đến một năm.
Một vài nỗ lực như vậy đã bắt đầu xuất hiện. Ví dụ, các cơ sở giáo dục của Mỹ cố gắng giành được tài trợ của Chương trình Huấn luyện Đào tạo Sau đại học và Nghiên cứu Liên ngành (IGERT), một chương trình trực thuộc Quỹ Khoa học Quốc gia nhằm quảng bá việc đào tạo tiến sỹ liên ngành.
Mô hình của IGERT cho thấy một cơ cấu tài trợ hợp lý sẽ là động lực cho sự thay đổi. Chính phủ và các tổ chức tài trợ nên yêu cầu các cơ sở giáo dục cung cấp số liệu về số lượng nghiên cứu sinh tiến sỹ đã hoàn thành chương trình đào tạo, số lượng người tìm được việc làm và nơi công tác, và phân bổ mức tài trợ dựa trên cơ sở đó. Điều này sẽ giúp các sinh viên tương lai chọn lựa được một chương trình đào tạo tốt. Những chương trình không hiệu quả sẽ phải chỉnh sửa hoặc đóng cửa.
Trước khi những phương pháp trên đây được triển khai rộng rãi, thì việc một nghiên cứu sinh khi bắt đầu chương trình đào tạo tiến sỹ có ý thức về những cơ hội việc làm sau này hay không tùy thuộc vào chính họ.
Trong bóng tối, không phải nấm nào cũng mọc tốt.
Nguyễn Thị Ngọc Diệp dịch (Fix the PhD, Nature - 20/04/2011)
(Bản thảo bài đăng trên tạp chí Tia sáng ngày 20/5/2011).


[i] http://www.nature.com/news/2011/110419/full/472276a.html
[ii] http://www.nature.com/nature/journal/v472/n7343/full/472283a.html