Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Tuyên truyền một chiều làm người Trung Quốc thêm xấu xí

Giáp Văn Dương 

1. Khoảng năm 2000-2001, trong quá trình tìm hiểu văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là những thói hư tật xấu của họ đến văn hóa Việt Nam, như thói háo danh hư học, tôi đọc được cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” của Bá Dương – một nhà báo người Đài Loan. Càng đọc và suy ngẫm, tôi càng thấy người Trung Quốc quả thực có những thói quen rất xấu, như kỳ thị chủng tộc, tự tôn quá đáng, cãi lấy được v.v. 

Vài năm sau đó, tôi có dịp làm việc với nhiều đồng nghiệp đến từ Trung Quốc lục địa. Về chuyên môn họ khá vững vàng, nhưng về văn hóa, ngoài những mô tả của Bá Dương ra, tuy đậm nhạt khác nhau tùy người, thì còn một đặc điểm chung rất nặng nề mà Bá Dương đã không nhắc đến. Đó là: những người Trung Quốc mới này, dù là nhà khoa học, cũng bị chính phủ Trung Quốc tuyên truyền một chiều kiểu nhồi sọ tạo ra những định kiến rất khó gỡ bỏ, đặc biệt là trong các tranh luận liên quan đến tranh chấp biên giới, hải đảo, trong đó có tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. 

Còn nhớ, vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc đã tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Cuộc chiến ngắn nhưng đẫm máu. Hơn ba mươi năm sau trôi qua, nguyên nhân thực sự của cuộc chiến vẫn còn trong vòng tranh luận. Vì thế, trong một cố gắng tìm hiểu nguyên nhân thực sự của cuộc chiến theo lý giải của phía bên kia, tôi đã hỏi ba đồng nghiệp người Trung Quốc. Cả ba đều trên dưới ba mươi tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ ở trong nước, rồi sang Anh làm việc cùng nhóm với tôi. Điều tôi quan tâm là với những người Trung Quốc trẻ, được đào tạo bài bản ở trong nước, thì thông qua tuyên truyền và giáo dục của nhà nước Trung Quốc, họ hiểu về căn nguyên cuộc chiến như thế nào. 

Sau một giờ trao đổi, cả ba người đều đưa ra cùng một kết luận giống hệt nhau: Trung Quốc tiến đánh Việt Nam, vì: 
  • Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, nhưng Việt Nam đã liên kết với Liên Xô (cũ) để đe dọa Trung Quốc.
  •  Do Việt Nam tiến đánh Campuchia, một đồng minh thân cận của Trung Quốc. 
  • Do xung đột biên giới dai dẳng, Việt Nam đòi chia biên giới theo hướng có lợi cho mình. 
Cả ba đều đưa ra lý lẽ như vậy, nhưng không đi sâu phân tích xem lý lẽ đó đã thỏa đáng chưa, và nguyên nhân thực sự của những cái được gọi là nguyên nhân kia là gì. Điều này hoàn toàn trái ngược với tác phong làm việc khoa học, tìm hiểu kĩ nguyên nhân, liên hệ đến các yếu tố tác động bên ngoài, như trong các vấn đề chuyên môn của họ. 

Ba người đến từ ba vùng khác nhau của Trung Quốc, nhưng đều đưa ra những lập luận giống hệt nhau. Điều đó cho thấy, chính sách tuyên truyền của Trung Quốc được tiến hành đồng bộ và rộng khắp đến mức nào. Và ảnh hưởng của chính sách tuyên truyền một chiều đó ảnh hưởng lệch lạc đến nhận thức của nhân dân họ ra sao, vì trong một vấn đề phức tạp như cuộc chiến biên giới năm 1979, nguyên nhân thực sự của nó không thể chỉ gói gọn trong mấy dòng lập luận đơn giản. Trong các cuộc binh đao, việc đẩy hết trách nhiệm cho phía yếu hơn và làm ra vẻ mình vô can là một việc rất khó được chấp nhận. 

2. Ngày 22/2/2013, Bà Rose Tang – một nhà báo người Mỹ gốc Hoa, đã từng giảng dạy tại đại học Princeton - đã chụp lại tấm biển có dòng chữ tiếng Trung và Anh “Không phục vụ người Nhật, người Philippines, người Việt Nam và chó” tại nhà hàng Beijing Snacks (Bách Niên Lỗ Chử) và đăng lên trang facebook cá nhân. Những tấm ảnh này đã gây ra một sự phẫn nộ lớn trong cộng đồng người Việt. Sau đó, tấm biển này đã được gỡ bỏ, nhưng ông chủ nhà hàng nhất định không chịu xin lỗi về việc kỳ thị chủng tộc này. 

Tuy đây chỉ là việc làm của cá nhân ông chủ nhà hàng nói trên, nhưng nó phản ánh tâm lý kỳ thị chủng tộc đang rất phổ biến ở Trung Quốc, nhất là trong bối cảnh căng thẳng trong tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc và Việt Nam, Philippines, Nhật Bản ngày càng gia tăng. Tình hình trở nên đặt biệt căng thẳng với Việt Nam và Philippines khi Trung Quốc ngày càng lộ rõ ý đồ độc chiếm biển Đông với yêu sách về “đường lưỡi bò” hết sức phi lý, bất chấp Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS). 

Khi chính phủ Nhật Bản quốc hữu hóa đảo Senkaku, hàng loạt vụ đập phá cửa hàng bán đồ Nhật đã xảy ra. Khi Philippines đâm đơn kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, thì chính quyền Trung Quốc kịch liệt phản đối, và một nhà hàng Trung Quốc treo tấm biển kỳ thị chủng tộc gây sốc này. 

Nhớ lại lời bàn về kỳ thị chủng tộc của Bá Dương: “Tôi chỉ muốn nói cái đầu óc kỳ thị nơi người Trung Quốc, so với kỳ thị chủng tộc, còn ở mức độ thấp kém hơn, vì nó là đầu óc kỳ thị địa phương”, mới thấy rằng việc kỳ thị chủng tộc là có thật và thực sự là một căn bệnh của người Trung Quốc. 

Người Trung Quốc ngay từ mới sinh ra đã được, hoặc bị, văn hóa Khổng giáo truyền thống tẩm ướp tư tưởng tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Chính tư tưởng coi việc bình thiên hạ như tột đỉnh thành công này, cộng hưởng với tâm lý kỳ thị chủng tộc và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, mới là điều đáng quan ngại. 

Nếu liên hệ xa hơn, thì việc kỳ thị chủng tộc đã nằm trong truyền thống văn hóa của Trung Quốc từ thời xa xưa. Người Trung Quốc luôn cho rằng đất nước họ là trung tâm của thế giới, nên mới tự gọi mình là Trung Quốc. Họ cũng tự coi dân tộc mình là ưu việt hơn các dân tộc xung quanh, nên gọi các dân tộc này là Man - Di - Địch - Nhung, cần phải giáo hóa. 

3. Trong lo ngại về những căng thẳng mà Trung Quốc gây ra cho các nước xung quanh trong thời gian gần đây, đặc biệt khi Trung Quốc đang trỗi dậy, có sức mạnh kinh tế và quân sự vượt trội so với các nước láng giềng, thì tâm lý kỳ thị chủng tộc này là một điều rất đáng lo ngại. Nó nhắc nhở người ta nhớ lại hình ảnh của các nước phát xít trước thế chiến thứ hai. Thời kỳ đó, ở các nước này cũng phổ biến tâm lý kỳ thị chủng tộc, coi chỉ dân tộc mình là ưu việt đáng sống, còn các dân tộc khác chỉ là thứ cấp, thậm chí đáng bị loại bỏ. Chính tâm lý kỳ thị chủng tộc và chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi ở các nước phát-xít này là một trong những nguyên nhân đưa nhân loại đến cuộc đại chiến tàn khốc, mà hệ quả của nó đến bây giờ vẫn còn dai dẳng, và có lẽ sẽ không bao giờ có thể khắc phục hết được. 

Liệu Trung Quốc có đi theo vết xe đổ này không? Liệu Trung Quốc có gây ra đại họa cho nhân loại bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi mà chính phủ họ ít nhiều cổ xúy, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tuyên truyền một chiều về các tranh chấp và xung đột lợi ích với các dân tộc khác? Câu trả lời còn chưa rõ ràng. Nhưng có một điều chắc chắn, nếu chính phủ Trung Quốc không có những điều chỉnh kịp thời để hạn chế tâm lý kỳ thị chủng tộc và chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi dường như đã rất rõ ràng thì điều không ai muốn rất có thể sẽ lại xảy ra. Đó sẽ là cái giá quá đắt, không chỉ đối với Trung Quốc và các nước nạn nhân, mà còn với cả nhân loại. 

Với tâm lý việc kỳ thị chủng tộc, nhiều người Trung Quốc đã thực sự xấu xí. Và sự xấu xí này đang đang được gia cường trực tiếp hay gián tiếp thông qua chính sách tuyên truyền một chiều của nhà nước Trung Quốc. 

4. Đối với Việt Nam, bài học về sự phản tác dụng của chính sách truyền thông một chiều đã nói trên đây của Trung Quốc cũng cần phải được nghiêm túc xem xét. Tuyên truyền một chiều có thể có tác dụng cho các chính sách nhất thời của nhà nước, nhưng về lâu dài thì lại có hại cho dân trí, dân khí và sự trưởng thành của dân tộc. Người dân chỉ có thể trưởng thành nếu được tiếp cận các luồng thông tin đa dạng và được tự do tham gia thảo luận, hòng tìm ra sự thật trong rừng thông tin đó. Nói cách khác, dân tộc chỉ có thể trưởng thành nếu mọi người dân của nó được quyền tự do tiếp cận thông tin, tự do thảo luận, tức tự do báo chí được đảm bảo. 

Với những sự việc nhỏ như sự kỳ thị chủng tộc của một chủ nhà hàng Trung Quốc trên đây, việc lên tiếng để bảo vệ phẩm giá của mình là cần thiết. Nhưng điều này sẽ trở thành vô nghĩa nếu Việt Nam cứ mãi nghèo nàn tụt hậu, cứ mãi ở thế yếu so với họ. Nếu đât nước không phát triển đươc, dẫn đến dân tộc bị khinh rẻ trên trường quốc tế thì lỗi này trước hết thuộc về các nhà lãnh đạo đất nước, và sau đó là từng người dân cụ thể. 

Vì thế, điều cần thiết hơn là phải làm sao cho Việt Nam hung mạnh, phải giải phóng sức sản xuất và sức sáng tạo, quy tụ nguồn lực để phát triển. Điều này đòi hỏi nỗ lực trước hết của các lãnh đạo, sau đó mới đến từng người dân. 

Nếu Việt Nam giàu mạnh, thì những lời kỳ thị đâu đó chỉ như con gió thoảng, có gì là đáng ngại? Còn khi Việt Nam mãi nghèo nàn lạc hậu, thì tức giận khi bị kỳ thị đâu có giúp được gì nhiều.

---
Bài đã đăng trên Tạp chí Tia sáng.