Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

Phía sau bạo hành

Nạn bạo hành đang là chủ đề nóng và nhức nhối trên báo chí thời gian gần đây. Bạo hành chồng lên bạo hành dưới nhiều dạng khác nhau, như một vòng xoáy nhân quả chưa có hồi kết. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, thì không phải bây giờ nạn này mới bùng lên, mà chỉ bởi truyền thông bây giờ giúp chúng ta nhìn rõ hơn, chứ nạn bạo hành ắt hẳn đã có từ trước đây rất nhiều.
Ngay cả như trường hợp bạo hành trẻ em ở nhà trẻ Phương Anh đang bị dư luận phản đối rầm rộ trong những ngày này, hai cô giáo sau khi bạo hành trẻ, thì ngay lập tức lại bị bạo hành bởi truyền thông.
Tuy chưa có nghiên cứu chi tiết để so sánh xem nạn bạo hành này có giảm đi theo thời gian hay không, nhưng theo cảm nhận của cá nhân người viết, nạn này không hề giảm. Lý do: ngoài những nguyên nhân gốc dễ chưa khắc phục được, thì sự cộng hưởng với bạo lực trong trò chơi, phim ảnh, rượu, khó khăn kinh tế, bất công xã hội…, nạn bạo hành có nguy cơ tăng chứ không giảm.
Vậy đâu là lý do cho tình trạng này? Vì sao người ta bạo hành với những người không có khả năng chống cự, nhiều khi là chính những người thân thiết, như vợ hoặc con mình?
Liệu có phải là do sự bế tắc của cuộc sống khó khăn làm cho con người ta trở lên hung bạo? Điều này có thể đúng, nhưng chỉ một phần rất nhỏ. So với trước đây, cuộc sống đã bớt khó khăn về vật chất hơn rất nhiều, nhưng nạn bạo hành dường như không giảm, mà còn có phần ‘hoang dại’ hơn xưa. Sự bạo hành này còn được tiến hành bởi những người không phải cùng quẫn về vật chất. Họ là những người có công ăn việc làm đàng hoàng, đôi khi có vị trí trong xã hôi, nhưng vẫn bạo hành những người không có khả năng kháng cự.
Chưa trưởng thành?
Vậy thì đâu là nguyên nhân? Có phải đó là một sự thất bại sâu xa của giáo dục? Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là văn hóa không biết đối thoại và cho rằng không cần đối thoại. Không ai được dạy cách đối thoại sao cho đúng và hiệu quả. Ngay cả người lớn cũng vậy, cũng không được học về đối thoại và không có ý niệm đúng về sự cần thiết của đối thoại. Chính vì thế, khi gặp xung đột, thay vì đối thoại để tìm ra cách giải quyết, người ta có xu hướng dùng bạo lực để dập tắt vấn đề.
Không ai được dạy cách đối thoại sao cho đúng và hiệu quả. Ngay cả người lớn cũng vậy, cũng không được học về đối thoại và không có ý niệm đúng về sự cần thiết của đối thoại. Chính vì thế, khi gặp xung đột, thay vì đối thoại để tìm ra cách giải quyết, người ta có xu hướng dùng bạo lực để dập tắt vấn đề.



Trong gia đình và nhà trường, đối thoại không được khuyến khích. Giữa chính quyền và nhân dân cũng vậy, đối thoại bình đẳng vẫn chỉ là mong đợi. Ra lệnh một chiều từ trên xuống, và vâng lời từ dưới lên là một sự phổ biến. Trong trường hợp ngược lại, sẽ bị ‘cưỡng chế’.
Điều thứ hai tôi nghĩ đến đó là sự chưa trưởng thành về văn hóa, trí tuệ và nhân cách. Khi thấy hai trẻ đánh nhau thì chúng ta đều cho đó là điều dễ hiểu, vì các em chưa trưởng thành. Nhưng khi người lớn đánh trẻ em thì chúng ta phải đặt câu hỏi: liệu có phải người lớn đó cũng chưa trưởng thành? Anh ta đã dùng phương pháp của trẻ con để giải quyết vấn đề. Vậy trong sâu xa, sự trưởng thành của anh ta không hơn trẻ bao nhiêu.
Một nền văn hóa được cho là duy cảm, tức những con người của nó sống nặng về cảm xúc, lại ít tình yêu thương với trẻ nhỏ và phụ nữ như vậy hay sao?
Vì sao nhiều văn bản luật đã ban hành, nhiều chiến dịch tuyên truyền rầm rộ, lại không mang lại hiệu quả. Hay bởi vì chính những người làm luật, những người tuyên truyền, cũng lại đang bạo hành những người yếu đuối hơn, theo một cách khác?
Có phải vì thế mà thi sĩ Tản Đà, sinh thời đã phải thốt lên: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn / Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”.
Nay sau gần trăm năm, dân số đã đạt chín mươi triệu, mà lời than của Tản Đà vẫn không thay đổi. Vì chúng ta vẫn chưa trưởng thành, hay vì “cái nước mình nó thế”, hay vì nguyên nhân nào khác?
Nếu chỉ cần ý thức được, chúng ta vẫn còn chưa trưởng thành, thì như vậy đã giúp kiềm chế để có thể thỏa hiệp và nói chuyện được với nhau. Rồi từ đó sẽ học hỏi thêm mà trưởng thành dần, có thể đối thoại được với nhau và với ngoài ngoài một cách bình đẳng.
Như vậy, câu chuyện về nạn bạo hành trẻ nhỏ không còn chỉ là chuyện bạo hành thuần túy, mà ẩn chứa phía sau một câu chuyện văn hóa lớn. Phải chăng, sau nhiều nghìn năm tồn tại, nền văn hóa của chúng ta vẫn chưa trưởng thành? Và nếu đúng như vậy, thì vì sao? Vì chúng ta từ chối sự trưởng thành, hay không được phép trưởng thành, hay môi trường xã hội không cho phép chúng ta sống như một người trưởng thành, tự chủ và có nhân cách?
Vẫn còn thù hận?
Lịch sử nhiều nước mắt của chúng ta có tham gia gì về câu chuyện bạo lực này? Khi bạo lực là một cách thức để tồn tại trong hàng chục năm chiến tranh, nhiều thế hệ đã chung sống và quen với nó, thì dư chấn của nó vẫn còn rất mạnh khi xã hội đã chuyển sang thời bình.
Nhừng thù hận không thể tránh khỏi như một di sản của những cuộc chiến kéo dài có ảnh hưởng gì đến sự bạo hành này? Phải chăng đây chỉ là một sự bùng phát, ở nhiều cấp độ, nhiều thể dạng, của một lòng thù hận, nhiều khi đã ẩn vào vô thức, nhưng chưa được gỡ bỏ. Cứ mỗi khi có cơ hội là lại bùng lên. Người lớn bạo hành trẻ nhỏ, chồng bạo hành vợ, cấp trên bạo hành cấp dưới, quan bạo hành dân, dân bạo hành lẫn nhau… dưới nhiều thể dạng?
Bạo hành mà chúng ta nhìn được, gây ra hậu quả nhãn tiền bằng những vết thương trên cơ thể, chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm. Theo logic thông thường, đi trước hành động thường là lời nói, đi trước lời nói là suy nghĩ. Chính suy nghĩ, dù ở dạng vô thức hay ý thức, quyết định hành động. Vậy thì chắc hẳn phải có một cuộc bạo hành vô hình và dữ dội trong đời sống tư tưởng của mỗi người. Sự bạo hành vô hình trong tư tưởng này, mà mỗi người đều là chủ thể và nạn nhân, sẽ bộc lộ ra ngoài dưới dạng bạo hành vật lý mà chúng ta chứng kiến.
Ngoài đánh đập, thì tiếng chửi bới chua ngoa, nhiều khi được xem như một đặc sản văn hóa, phải chăng cũng là biểu hiện của sự thù hận và bạo hành bằng ngôn ngữ này? Nếu không, thì giải thích làm sao khi người ta sẵn sàng xả vào nhau những câu chua cay đau đớn, để rồi án mạng có thể xảy ra tức thì?
Và rồi nữa, từ bạo hành trong suy nghĩ, đến bạo hành trong ngôn ngữ, đến bạo hành trong hành vi, khoảng cách là bao xa? Hay chúng chỉ là một và không có khoảng cách?
Vậy nên, nếu không xóa bỏ được sự bạo hành trong tư tưởng, và sau đó là bạo hành bằng ngôn ngữnày, thì không bao giờ có thể xóa bỏ được sự bạo hành bằng hành động mà chúng ta đã và đang thấy hằng ngày.
Đến đây hé lộ vai trò của giáo dục. Sự phổ biến của bạo hành mách cho chúng ta biết sự thất bại của giáo dục, cả trong gia đình và nhà trường. Thứ giáo dục áp đặt một chiều, để khi kết thúc hàng chục năm đi học, người ta vẫn không thể trưởng thành, không phải là thứ giáo dục đúng.
Cái chúng ta cần không phải là thứ giáo dục áp đặt này, mà là giáo dục giúp con người được trưởng thành sau những năm tháng đến trường, được tự do và tự chịu trách nhiệm về mình, từ suy nghĩ đến hành động, trong sự liên đới đến nhân phẩm và cuộc sống của người khác.
Cái chúng ta cần cũng không phải là một nền giáo dục nuôi dưỡng những mầm mống của thù hận, hoặc thất bại trong việc gạt bỏ những mầm mống này, nên mỗi khi có dịp thì thù hận lại trào ra.
Cái chúng ta cần một nền giáo dục tự do, tự chủ, giàu yêu thương và không mầm thù hận.
Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể đối thoại với nhau được. Đối thoại trong sự tôn trọng, để dần dà có thể đối thoại trong sự tương kính và tương ái.
Khi đó, bạo hành sẽ tự động được xóa bỏ, văn hóa cũng tự động trưởng thành. Còn không, chúng ta sẽ mãi sống trong một xã hội vị thành niên và thù hận lẩn khuất, để rồi bạo hành dưới nhiều thể dạng khác nhau có thể trào ra bất cứ lúc nào.
Giáp Văn Dương 
(Bài đã đăng trên Người Đô Thị)