Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

Bãi bỏ biên chế

Giáp Văn Dương

Năm 2003, tôi là lứa cuối cùng thi công chức và có biên chế trong ngành giáo dục. Lúc đó, tôi mới đi du học về. Vừa trở lại trường thì nhận được tin vui: Chuẩn bị thi công chức để vào biên chế. Đây sẽ là lứa giảng viên cuối cùng có biên chế của nhà trường, còn sau ngày 1/7/2003, giảng viên chỉ có hợp đồng làm việc dài hạn.
Khỏi phải nói là tôi và bạn vui như thế nào. Cảm giác mình là người may mắn. Mấy bạn lứa sau có chút ghen tỵ và thoáng chút buồn. Các thầy quản lý, tuy ngoài miệng vẫn nói hợp đồng làm việc dài hạn và biên chế là như nhau, không có phân biệt gì. Nhưng khi riêng tư, dường như các thầy cũng chia vui cùng chúng tôi. 

Lý do, có lẽ lúc đó các thầy cũng chưa biết khi bỏ biên chế để thay bằng hợp đồng làm việc thì mọi chuyện sẽ ra sao. Có biên chế trong tay, cứ đến ngày đến tháng là lương nhà nước chảy về, chỉ việc ra lĩnh. Nay thay bằng hợp đồng hình như trường phải tự lo? Thời điểm năm 2003 đó, mọi chuyện còn rất mù mờ. 

Rồi tôi cũng đi thi. Và rốt cuộc tôi cũng đỗ. Cầm quyết định trong tay mà thấy rộn ràng. Cảm giác một cái gì đó chắc chắn, một cái gì đó ổn định ùa đến. Có biên chế, nghĩa là có công ăn việc làm ổn định, nghĩa là có hộ khẩu, nghĩa là chính thức trở thành giảng viên một đại học lớn. Lúc đó lại đã lập gia đình và có con đầu lòng. Cơ sở hạ tầng coi như xong. Giờ chỉ cần tập trung vào công việc là cuộc đời sẽ ổn. 

Biên chế đối với tôi lúc đó thực sự là một cái gì đó rất ý nghĩa. Nhưng ý nghĩa của biên chế không chỉ như vậy. Chỉ 6 tháng sau tôi lại khám phá ra một ý nghĩa khác hẳn. Không phải là sự ổn định an toàn, mà là sự phiền phức quá mức cần thiết. Nếu lần đi du học trước, tôi chỉ có hợp đồng làm việc với nhà trường, việc xin đi du học khá dễ dàng. Thì lần này, vì là người nhà nước, vì có biên chế, nên việc đi học hóa ra vô cùng phức tạp. 

Cơ quan quản lý tôi bây giờ không phải là nhà trường nơi tôi làm việc, mà là Vụ tổ chức cán bộ của Bộ giáo dục. Muốn đi học, phải được vụ này duyệt trước, rồi sau đó trình lên lấy chữ ký của thứ trưởng. Trước đó, để hồ sơ ra được khỏi trường, tôi phải có được 6 chữ ký của quản lý các cấp tại trường. Sau đó lại phải có được 2 chữ ký ở trên Bộ nữa. 

Hành trình đó, ai trải qua mới biết nó là gì. Tờ đơn xin đi học của tôi vì thế đỏ rực chữ ký và các con dấu. Tôi ở Hà Nội còn đỡ, chứ lên bộ, thấy các anh chị ở Miền Trung, Miền Nam ra ăn trực nằm chờ rất tội. Ngày nhập học đã đến gần, mà vẫn chưa được ký, quyết định không biết khi nào mới có. Nhiều người đành chọn nước đánh liều đi trước cho kịp lịch, còn hồ sơ ở nhà làm sau. Có khi đi học được nửa năm thì quyết định cử đi học mới về tới trường. 


Rồi khi đi học cũng chưa thoát khỏi sự phiền phức của biên chế. Học bổng thì trường cấp năm một tùy theo kết quả học tập, nên mỗi năm lại phải về nhà gia hạn một lần. Lại hành trình xin 8 chữ ký và ngần đó thủ tục phải đi qua. Vừa xong thủ tục năm nay được vài tháng, chưa kịp làm gì thì lại phải nghĩ đến chuyện xin gia hạn cho năm sau nữa. Nói chung là mệt.

Lúc đó tôi chỉ ước sao mình chưa vào biên chế cho đỡ vất vả. Khi nào học xong thì thi tuyển vào trường lại từ đầu. 

Rồi việc học cũng xong. Nhưng câu chuyện về biên chế lại một lần nữa xuất hiện khi tôi phải đưa ra lựa chọn: Tiếp tục làm giảng viên đại học, hay phưu lưu cùng những dự định của riêng mình? 

Tôi đã chọn phưu lưu cùng những dự định của riêng mình, một phần vì cơm áo gạo tiền, nhưng phần quan trọng hơn vì những câu hỏi tôi của tôi đến lúc đó vẫn chưa có lời giải đáp. Những câu hỏi đó thoạt nghe rất đơn giản, như “Tôi là ai? Học để làm gì? Ý nghĩa cuộc sống là gì?” hóa ra cần rất nhiều thời gian để trả lời. Nhiều hơn rất nhiều so với những câu hỏi về chuyên môn. Lúc đó, tôi thậm chí còn chưa biết khi nào mới trả lời được. 

Nhưng phải thú thật, khi rời trường, ngoài thầy cô bạn bè thì một trong những điều tôi tiếc chính là biên chế. Lúc đó, tôi có 8-9 năm đóng bảo hiểm xã hội. Học hành cũng đã xong xuôi. Vậy mà chọn từ bỏ để đi một con đường khác, quả thật không dễ. 

Sau này nhìn lại, tôi phát hiện ra rằng, việc bỏ biên chế khó vì biên chế không nằm trên một tờ giấy, mà biên chế nằm ở trong đầu. Bỏ biên chế tức là bỏ quan niệm có một công việc ổn định suốt đời ở trong đầu mình. Cái cảm giác ổn định, yên tâm lại có phần quan trọng vì là người nhà nước đó nó rất quyến rũ. Vì thế mà bỏ nó vô cùng khó. 

Chính vì đã đi qua những cung bậc này rồi, nên tôi rất thông cảm với những người phải đối mặt với việc có nên bỏ biên chế hay không? Đặc biệt là những người đã có chút thâm niên, hoặc những người thích một cuộc sống ổn định. Nhưng cũng nhờ bước ngoặt này mà tôi bước ra một đời sống mới, sôi động và tràn đầy sức sống. 

Vì thế, khi thấy những bạn trẻ, học xong chỉ nhăm nhắm chạy vào nhà nước bằng mọi giá, thì tôi lại cảm thấy rất thương. Cuộc sống sôi động là thế, nhiều thử thách là thế, mà cũng nhiều cơ hội là thế, mà lại không khám phá. Nếu chọn vào nhà nước để cống hiến thì không nói làm gì. Nhưng nếu chỉ để có được sự yên ổn thì quả thực sai lầm. 

Chui vào nơi ổn định không có cạnh tranh là cách nhanh nhất để thui chột chính mình. Mà lương nhà nước theo thang bậc thì bao giờ cũng thấp. Nếu cứ thẳng ngay thì không biết sống thế nào. Mà xoay xở thì có khi soi gương lại thấy xấu hổ. Chưa kể bộ máy ăn lương ngân sách đã quá lớn, mỗi ngày lại mỗi phình to, nay đã lên đến 11 triệu người, đang quá ngưỡng chịu đựng, thì ra ngoài làm việc để không ăn lương ngân sách cũng đã là đóng góp cho đất nước. 

Có lần, một bạn trẻ hỏi tôi, vì sao người ta nói ở nước ta có một nghịch lý: Ai cũng có việc nhưng không ai làm việc, không ai làm việc nhưng ai cũng có lương; ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống; không ai đủ sống nhưng ai cũng sống; ai cũng sống nhưng không ai hài lòng; không ai hài lòng nhưng ai cũng giơ tay đồng ý? 

Tôi trả lời vắn tắt: Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc là vì biên chế. Không làm việc nhưng vẫn có lương cũng là vì biên chế. Lương không đủ sống vì không ai làm việc nên năng suất lao động thấp, biên chế lại ăn lương ngân sách, ngân sách chỉ có vậy, nên lương chỉ có vậy. Lương chỉ có vậy nên chỉ làm như vậy, tất nhiên sẽ không ai hài lòng. Không hài lòng nhưng vẫn phải đồng ý vì nếu không sẽ mất biên chế. Thế là chẵn một vòng tròn luẩn quẩn khép kín. 

Tôi cũng nói thêm với các bạn rằng, mấu chốt của một nghề nghiệp có ý nghĩa là người làm việc phải sống được bằng lương và phải cảm thấy tự hào về nghề nghiệp của mình. Nhưng với thang bậc lương từ ngân sách như hiện nay, không ai sống được bằng lương, nên để có thêm thu nhập thì phải “chân trong chân ngoài”, phải “vẽ thêm việc”, phải “cấu véo”, phải “hành là chính . Trong hoàn cảnh đó người ta rất dễ đánh mất mình, đánh mất lòng tự trọng. Cái dở nhất của biên chế không chỉ làm cho người ta sống dở chết dở với mức lương còm cõi, mà còn là sản sinh ra rất nhiều người không có lòng tự trọng. 

Chính vì thế, tôi luôn khuyến khích những bạn trẻ hay đi ra bên ngoài làm việc, vào khu vực tư nhân, vào khu vực nước ngoài, hoặc tự khởi nghiệp, để giảm sức nặng cho ngân sách nhà nước, để có cạnh tranh, để đối mặt với thử thách. Nơi nào có thử thách, nơi đó có cơ hội. Thử thách càng lớn, cơ hội càng cao. 

Tôi thậm chí thi thoảng còn bông đùa: Với các bạn có năng lực, chạy được vào nhà nước chỉ để yên ổn cho đến ngày nhận sổ hưu thì chưa chắc đã là thành công. Có thể, đó lại là thất bại lớn nhất của cuộc đời các bạn. 

Đó là lý do vì sao tôi luôn ủng hộ việc bãi bỏ biên chế, bãi bỏ chế độ làm việc không thời hạn ở khu vực công, để chuyển qua chế độ hợp đồng nhằm tăng sức cạnh tranh, ở tất cả các ngành nghề. 

Tôi quan sát thấy, trên thực tế, với mỗi quốc gia, chỉ cần rất ít những người có biên chế trọn đời. Đó là ai? Đó là những Thẩm phán của Tòa án Tối cao, những người cần được tránh mọi sức ép từ bên ngoài, trong đó có sức ép về việc làm, để giữ được tiếng nói độc lập trong việc bảo vệ công lý, thẩm định các đạo luật... 

Nhóm này thường không đến mười người. Ngoài ra, ở một số nước, các giáo sư đại học rất giỏi cũng thường có biên chế, nhưng đó là biên chế với nhà trường. Mục đích là để họ tránh sức ép mất việc mà bảo vệ tự do học thuật. Nhưng bảo vệ học thuật ở Việt Nam là chuyện xa xỉ. Mà thời đại này, nếu đã là giáo sư rất giỏi, thì cơ hội làm việc hóa ra lại rất nhiều. 

Thành ra, nếu đi đến tận cùng, thì số người cần biên chế của một nước chỉ chưa đến mươi người. Còn lại có thể chuyển sang làm việc ở chế độ hợp đồng hết. Ngay cả nguyên thủ và các bộ trưởng làm việc cũng có nhiệm kỳ, tức cũng là một dạng hợp đồng. Chỉ khi nào làm được như thế, sức sống của sự cạnh tranh mới thắng được sự ù lì vì tâm lý thích ổn định. 

Nếu làm được việc đó, gỡ bỏ biên chế và chế độ làm việc trọn đời ở tất cả các ngành nghề và cấp bậc, thì Việt Nam không chỉ giảm tải gánh nặng ngân sách, tức giảm tải cho dân đóng thuế, mà còn nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 

Ngoài ra, việc bãi bỏ biên chế này còn giải quyết được một vấn đề rất đặc thù khác của Việt Nam. Đó là những quan chức có năng lực yếu kém, nhưng vì có biên chế nên không thể đuổi việc, vì người sử dụng lao động, người quản lý lao động và người trả lương là khác nhau. Do đó, chỉ có thể sắp xếp lại và luân chuyển. Mà đã luân chuyển thì người ta có nhiều quy trình mẹo mực để chỉ chuyển ngang, hoặc chuyển lên, chứ ít ai chịu chuyển xuống. Còn nếu không chuyển được thì đành phải dồn vào một chỗ để chờ ngày nhận sổ hưu. Thế là tạo ra một vòng luẩn quẩn, một bộ máy nhân sự kém chất lượng tù đọng không thể thanh lọc.

Chưa kể, trước khi về hưu, mỗi quan chức lại tranh thủ bổ nhiệm họ hàng tay chân phe cánh như báo chí đã nêu, tạo ra một ma trận nhân sự yếu kém giằng díu lẫn nhau, tồn đọng từ đời lãnh đạo này sang đời lãnh đạo khác. Người lên sau không thể gỡ bỏ, vì họ đều đã vào biên chế. Vì thế, nếu bãi bỏ biên chế thì vấn đề tưởng chừng không thể gỡ được này, bỗng nhiên lại có thể gỡ được. 

Năng suất lao động của Việt Nam hiện rất thấp, chỉ bằng ¼ Malaysia, 1/15 của Singapore. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng có một nguyên nhân quan trọng, là vì hiện có quá nhiều người ăn lương ngân sách, quá nhiều người bám vào biên chế, chấp nhận mức lương èo uột không đủ sống, và coi điều đó như một sự thành công. Nếu không thay đổi thì tình hình sẽ ngày càng ảm đạm khi ngân sách càng ngày càng cạn kiệt. 

Do đó, nếu dũng cảm xóa bỏ biên chế ở tất cả các ngành nghề và cấp bậc, thì bài toán bùng nhùng “khi nào sống được bằng lương” và “năng suất lao động quá thấp” bỗng nhiên có lời giải.
---