Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

Chữ Tín

Cách đây vài năm, khi đi mua sắm ở một siêu thị lớn, gia đình tôi đã rất bối rối khi bị yêu cầu phải gửi hết đồ đạc của mình để chỉ đi người không vào mua sắm. Nhưng sự việc trở rối rắm khi chúng tôi mua đồ và thanh toán xong, vừa bước đi vài bước lại bị bảo vệ kiểm tra túi đồ của mình xem có khớp với hóa đơn không thì mới được đi về. 

Lúc đó chúng tôi đã phản đối vì cho rằng làm như thế vừa mất thời gian, vừa thiếu tôn trọng khách hàng. Anh bảo vệ chỉ nói đó là quy định mà không giải thích tại sao. Mà quả thực chúng tôi cũng không hiểu tại sao thật. 

Phải sau khi đã về nhà, thảo luận một khúc, chúng tôi mới hiểu ra rằng, bảo vệ làm thế là để tránh việc thu ngân thông đồng với khách hàng mang đồ ra khỏi siêu thị. Lúc đó, chúng tôi hơi ngốc nghếch sau hơn chục năm ở nước ngoài, nên không hiểu ra quy trình này, vì nó quá xa lạ và gây sửng sốt. Bài học tôi rút ra sau sự kiện đó là niềm tin trong xã hội đang thiếu hụt trầm trọng. 

Rồi sau đó, mỗi khi phải làm gì đó liên quan đến giấy tờ, như xin học cho con chẳng hạn, tôi để ý thấy trên hồ sơ của mình lúc nào cũng chi chít dấu đỏ. Những giấy tờ tôi dùng trước đây cũng thế, bao giờ cũng phải có ít nhất một dấu đỏ đóng trên đó thì mới đáng tin. Còn không có dấu đỏ là không có giá trị. 

Tôi bắt đầu đặt ra câu hỏi, vì sao hồ sơ giấy tờ hành chính ở nhà bao giờ cũng đỏ rực những con dấu? Vì quy trình nó thế, hay vì người ta không tin nhau, phải có con dấu thì mới đáng tin? Không có dấu đỏ, thì lời nói của anh, chữ ký của anh, dù rành rành ra đó, cũng không có chút giá trị nào cả. 

Nhưng oái ăm ở chỗ, quy trình chặt chẽ thế, nhiều dấu đỏ thế, mà chưa ở đâu tôi thấy giấy tờ văn bẳng giả nhiều như ở đây. Người ta có thể rao bán những thứ giấy tờ văn bằng giả công khai trên mạng, trong các tờ rơi dán trên tường, có cả điện thoại và tên người liên hệ đàng hoàng.

Ngày xưa, khi chưa có con dấu và nhiều người chưa biết chữ, thì người ta điểm chỉ. Lúc đó, dân ta còn chưa biết điểm chỉ là một cách lấy dấu vân tay, nên dấu điểm chỉ thường chỉ là một chấm đen xì. 

Nhưng cái chấm đen xì đó vẫn trở thành vật bảo chứng. Nó như tảng đá ở ven đường rằng, đây nhé, câu chuyện của chúng ta diễn ra ở cạnh hòn đá này đấy. Ông biết và tôi biết, có hòn đá làm chứng nữa. Chỉ như vậy thôi là đủ, không ai tính chuyện lật kèo ai vì đã có hòn đá làm chứng ở ven đường.
Ám ảnh về con dấu mạnh mẽ đến mức luật doanh nghiệp cho phép bỏ con dấu khi giao dịch mà trên thực tế, sau gần hai năm triển khai, tôi chưa thấy đơn vị nào dám bỏ con dấu. Các văn bản doanh nghiệp trình lên vẫn được yêu cầu phải đóng dấu thì mới có hiệu lực. 

Điều này trái ngược hoàn toàn với những giấy tờ hành chính tôi đã sử dụng khi còn ở nước ngoài. Tôi hiếm khi nhìn thấy con dấu đóng trên những giấy tờ đó. Tất cả chỉ là một chữ ký tay. Dù đó là giấy tờ quan trọng đến mức nào đi chăng nữa, chỉ chỉ cần người hữu trách ký vào là đủ. 

Trong các giao dịch thông thường tôi còn không cần phải ký. Chỉ cần in văn bản ra và gửi đi là xong. Nhiều trường hợp còn không cần văn bản, chỉ cần gọi điện là đủ. Sau này tôi hiểu rằng đó là cơ chế hậu kiểm. Điều này trái ngược hoàn toàn với cách tiền kiểm kỹ càng quá đáng, đến mức không tin, không quản được thì cấm, mà tất cả chúng ta đều quen thuộc. 

Và tôi quan sát thấy, ở những nơi mà tôi đã đi qua, những nơi người ta ít đóng dấu đỏ lên các văn bản như thế, thì đều là những đất nước phát triển hơn đất nước của tôi. 

Tìm hiểu thêm thì tôi hiểu ra rằng, ở những nơi đó, niềm tin đang được sử dụng như một thứ vốn xã hội. Khi người ta tin nhau thì người ta không mất thời gian công sức để kiểm tra và đề phòng nhau, vì thế mà người ta tiết kiệm được nguồn lực, và người hợp tác với nhau hiệu quả hơn. 

Việc này giúp cho năng suất lao động của cả xã hội tăng lên. Niềm tin vì thế đang hoạt động như một thứ vốn đặc biệt, gọi là vốn xã hội. Nhờ có loại vốn này mà xã hội của họ vận hành hiệu quả hơn, phát triển nhanh hơn. Còn ở ta, có cả một bộ máy hùng hậu ăn lương để chỉ làm một việc là kiểm tra lẫn nhau và tìm cách qua mặt nhau. Các bên thay vì tin nhau và hỗ trợ nhau thì lại quay ra làm khổ nhau. Vì thế mà mất thời gian, vì thế mà kém hiệu quả. 

Vốn xã hội quan trọng như vậy, nhưng làm sao để tăng vốn xã hội đây? Như đã thấy, niềm tin nằm ở trung tâm của vốn xã hội. Vì thế, bất cứ việc gì giúp tăng niềm tin thì đều giúp tăng vốn xã hội. Trong đó, quan trọng nhất là niềm tin của nhân dân và chính quyền, niềm tin của người dân với tương lai của đất nước họ, và niềm tin giữa người với người trong xã hội trong mọi sinh hoạt hằng ngày. 

Để gia tăng niềm tin đó thì những người đang cầm giữ kỷ cương của đất nước, những quan chức, phải gương mẫu trước hết. Nếu người trên không khả tín thì sao có thể đòi hỏi người dưới đáng tin. Người xưa nói, thượng bất chính hạ tắc loạn cũng là vì lẽ này vậy. 

Rõ ràng, người ta chỉ có thể tin sau khi đã hiểu. Mà để hiểu thì điều kiện tiên quyết là phải tôn trọng và lắng nghe nhau. Rồi nữa, sau khi đã hiểu và đã tin, thì các bên cần phải giữ chứ Tín của mình để duy trì niềm tin đó, phổ biến nhất là bằng cách trân trọng lời nói của mình và giữ cho hành xử của mình được nhất quán. Nếu không, bao nhiêu công sức gây dựng niềm tin cũng sẽ đổ sông đổ bể. Một lần bất tín vạn sự bất tin là vì vậy. 
Vai trò của niềm tin như một thứ vốn không chỉ đúng với xã hội mà còn đúng với cả tổ chức và các cá nhân. Với cá nhân, niềm tin chính là vốn liếng lớn nhất để một người lập nghiệp. Lớn đến mức nào? Đến mức vượt qua mọi thứ vốn liếng khác. Đến mức, mất niềm tin thì bị coi là mất tất cả. Vì sao? Vì khi mất niềm tin thì không còn ai muốn làm việc với anh, và vì thế, anh không có cách nào để thành việc cùng người khác. 

Niềm tin quan trọng như thế, nhưng ngày nay, niềm tin suy thoái đến mức, ngay cả khi đã đóng dấu, hoặc đã ký tên điểm chỉ, và có thêm cả người làm chứng, thì người ta vẫn có thể lật kèo dễ dàng. Và thường xuyên, họ biện minh đó là những giải pháp tình thế. Nghĩa là sao? Nghĩa là tình hình thế thì buộc phải thế. Nhưng hậu quả lại không thế. Hậu quả là sự đổ vỡ lâu dài, không phải là những tình thế nhất thời. Vì sao? Vì nếu người lật kèo là dân thường, thì chỉ một mối quan hệ cá nhân bị đổ vỡ. Nhưng nếu người lật kèo là quan chức, thì rường mối xã hội bị hủy hoại. Còn nếu người lật kèo là nguyên thủ, thì không chỉ an ninh quốc gia bị ảnh hưởng, mà quốc gia còn không có cách nào giao dịch làm ăn trên trường quốc tế. Trong những tình huống đó, lời nói là chữ ký. Anh nói sao thì nó sẽ là như vậy. Nếu không, anh sẽ mất lòng tin. Mà mất lòng tin là mất tất cả. 

Hẳn các doanh nhân đã hiểu rất rõ giá trị của điều này, khi họ đặt chữ Tín lên trên hết. Chính là chữ Tín, chứ không phải là chữ nào khác. Đối với doanh nhân, chữ Tín quý hơn vàng, chữ Tín là trên hết. Giữ chữ Tín vì thế trở thành lẽ sống của các doanh nhân đích thực. Giữ bằng cách nào? Phổ biến nhất là bằng cách giữ lời nói và hành động của mình được nhất quán. Họ luôn coi lời nói chính là chữ ký của mình. Chỉ cần nói ra và xác nhận với nhau là đủ, không cần đến việc phải ký kết, lại càng không cần đến việc phải đóng dấu. 

Mà ngẫm ra, câu chuyện về vai trò của niềm tin và chữ Tín không chỉ đúng với giới doanh nhân, mà còn đúng với mọi giới khác. Sở dĩ trong Đông Tây kim cổ, các chính trị gia thường bị dân chúng ghét, chủ yếu là vì họ không giữ được chữ Tín, nói một đằng làm một nẻo, chứ không phải vì họ kém tài năng hay thiếu hấp dẫn. Thực tế cho thấy, những chính trị gia nào giữ được chữ Tín thì đều được dân chúng kính trọng và có sự nghiệp đáng ghi nhận. Chữ Tín khi đó sẽ có sức mạnh đi xuyên qua những kỹ xảo ngôn từ để chạm đến trái tim người đối tiếp. 

Như thế, niềm tin là vốn liếng của xã hội. Chữ Tín vốn liếng của cá nhân. Xã hội có niềm tin thì sẽ phát triển. Có nhân có chữ Tín thì sẽ thành việc. Còn ngược lại, mất niềm tin và mất chữ Tín thì sẽ mất tất cả. 

Chân lý giản dị này ai cũng hiểu ra, nhưng phải là người bản lĩnh mới thực hiện được. 

Giáp Văn Dương
---
Bản rút gọn bài này đã đăng ở Vnexpress.net.