Hiển thị các bài đăng có nhãn SVVN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SVVN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Con người tự do là đích đến của giáo dục


(Bản nguyên bài trả lời phóng viên Lê Ngọc Sơn, báo sinh viên Việt Nam. Tòa soạn đã biên tập lại và xuất bản dưới tên: Hãy bồi đắp cho tâm hồn phì nhiêu, số ra ngày 6/8/2012).

Ở Việt Nam, nay người trẻ không chỉ đối diện với khủng hoảng kinh tế, mà còn đối mặt với một cuộc khủng hoảng các giá trị, khủng hoảng niềm tin, văn hoá...  Anh có cùng nhận định không? Và nếu có, thì cảm nhận của anh thế nào?

Đúng là đang có một cuộc khủng hoảng giá trị, không phải chỉ ở những người trẻ, mà ở cả những người già, tức là ở qui mô toàn xã hội. Cảm nhận chủ quan là ai cũng cảm thấy bất an như đang ở trong trạng thái sắp chuyển pha. Nhưng tương lai sẽ ra sao thì lại không đoán định được chính xác. Cho đến nay, vẫn không có nghiên cứu, hoặc dự báo khả tín nào về vấn đề này cả.



Ở bên ngoài, thế giới đang thay đổi mạnh mẽ. Đời sống của người dân trong nước cũng vậy, thay đổi hoàn toàn so với trước.  Nhưng các giá trị cũ vẫn tồn tại bằng cách này hay cách khác, có thể chỉ là thói quen, nhưng nhiều khi lại ép buộc bằng luật pháp. Tuy là cũ, nhưng về mặt hình thức, chúng vẫn được coi là chính danh, là dòng chủ lưu trong đời sống tinh thần của người dân, nên tất yếu xảy ra một sự va chạm giữa những giá trị cũ và giá trị mới đang được hình thành. Sự va chạm này ngày càng mạnh bởi sự gia tốc của của công nghệ, truyền thông, du lịch…


Trong bối cảnh đó, chống chếnh và khủng hoảng niềm tin là điều tất yếu. Nhưng điều này không hẳn đã xấu. Người ta chỉ có thể mất những cái cũ, tức những cái đã có. Với các giá trị tinh thần, thì đó là một sự thải loại lành mạnh và cần thiết. Do đó, sự chống chếnh, mất niềm tin là triệu chứng cho thấy cái cũ đã không còn phù hợp. Xã hội đang co bóp, đang vận động để thải loại những giá trị lạc cũ. Đó là dấu hiệu của một sự chuyển đổi, là tâm thức sẵn sàng chào đón cái mới sắp hình thành. Đó cũng là tâm thức nhìn về phía trước, dù tương lai có thể có nhiều bất trắc. Nhưng như vậy còn hơn là mãi ngoái lại phía sau. Vì nếu cứ ngoái lại không giật lùi cũng giậm chân tại chỗ, không có cơ hội nào để tiến bộ được.
Vì thế, không nên e sợ chuyện mất niềm tin, mà nên sợ chuyện lúc nào cũng coi mình là nhất quả đất, bình chân như vại.

Khủng hoảng với thế hệ anh, và cách mà cá nhân anh vượt qua?

Phần lớn những người thế hệ của tôi, cũng như phần lớn xã hội, vẫn chưa thoát khỏi vòng xoáy của cơm áo gạo tiền. Vì thế, nếu phải tách biệt thành khủng hoảng thế hệ e rằng hơi khiên cưỡng. Đây là cuộc khủng hoảng chung của toàn xã hội. Sẽ rất chủ quan nếu đánh giá cho cả một thế hệ. Thực tế, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về chủ đề này, nên mọi nhận định chỉ là suy diễn  hoặc trải nghiệm cá nhân.

Tuy nhiên, nếu bắt buộc phải gọi tên một khủng hoảng thế hệ, thì có lẽ đó là việc phần lớn người trẻ đã để mặc đời sống vật chất cuốn đi mà không nhận ra đang có khủng hoảng về các giá trị tinh thần. Nói một cách khó nhọc và tù mù kiểu truyền thống thì đó là cuộc khủng hoảng không có khủng hoảng. Tức là anh bình chân như vại, vô cảm với các giá trị tinh thần.

Còn tôi có gặp khủng hoảng không, và vượt qua bằng cách nào ư? Tôi chuyển đổi môi trường sống khá nhiều, từ nông thôn ra thành phố, rồi lại ra nước ngoài nữa. Dĩ nhiên là va chạm với nhiều nền văn hóa và nhiều thang giá trị khác nhau. Ban đầu cũng có khủng hoảng giá trị vì quán tính của những thói quen cũ. Nhưng sau đó thì nhìn lại mình, rồi vượt qua dần dần.

Cách tôi vượt qua cũng rất đơn giản. Đó là trả lời các câu hỏi tại sao: Tại sao họ như vậy, còn mình lại như vậy? Tại sao họ phát triển mà mình không phát triển? Tại sao họ làm được mà mình không làm được…
Cũng nhờ việc đó mà tôi nhận thấy rằng, lịch sử phát triển khắp nơi đã hun đúc nên những giá trị phổ quát. Và chừng nào còn lảng tránh những giá trị này, thì chừng ấy còn bị tụt hậu, không thể vươn  lên bằng người được.

Anh đã trải nghiệm nhiều môi trường giáo dục khác nhau, vậy anh có thể cho biết, triết lý giáo dục ở các nơi đó như thế nào? Dưới góc nhìn của anh, ở những nước tiền tiến họ làm gì trong giáo dục?

Họ dạy người trẻ về giá trị của mình như một con người và như một công dân. Như một con người theo nghĩa đó là con người tự do, còn như một công dân là ý thức chịu trách nhiệm với tự do mà mình có. Với họ, con người tự do và trách nhiệm công dân là đích đến của giáo dục.

Theo anh, thái độ nào là hợp lý khi người ta đối diện với khủng hoảng?

Bình tĩnh và cởi mở là cách tốt nhất để đối diện khủng hoảng.
Thực ra, khủng hoảng cũng là cơ hội để nhìn lại mình, tổ chức lại mình. Trogn khủng hoảng, chi phí chuyển đổi là thấp nhất. Nếu biết tận dụng khủng hoảng để đánh giá và tổ chức lại mình thì đó chính là cơ hội vươn lên được tầm cao mới sau đó.

Việc này tuy dễ mà khó, vì nó chỉ có thể làm được khi ý thức được mình có tự do, tức mình vẫn có lựa chọn trong mọi tình huống. Chỉ khi đó người ta mới có thể tự tin vượt qua khủng hoảng, và vượt qua một cách thành công.

Trong thời điểm này, làm thế nào để giúp người trẻ sinh tồn, theo anh?

Những người đọc được câu hỏi này, trên báo giấy hay trên mạng, chắc chắc không có ai khó khăn đến mức chết đói. Do đó, chắc chắn họ vẫn sẽ tồn tại về mặt sinh học, nhưng tinh thần thì chưa chắc. Khi anh không ý thức được mình là một con người tự do, với những quyền bất khả tước đoạt, thì anh đã tự hủy một phần lớn đời sống của mình. Cũng như vậy, khi anh không ý thức được mình là một công dân, thì anh cũng đã tự loại mình ra khỏi xã hội.

Không ai có thể giúp được người trẻ sinh tồn ngoài chính người trẻ. Nếu người ta không tự ý thức được mình là một người tự do và một công dân trách nhiệm, thì đến thần thánh cũng không giúp được. Đời sống của họ có thể phì nhiêu về mặt sinh học, nhưng đời sống tinh thần như sa mạc. Mà như thế là đã tự hủy hoại mình rồi.

Vậy theo anh, làm thế nào để bảo tồn phẩm hạnh trong thời buổi khủng hoảng này?

Đầu tiên là phải có đã, rồi mới giữ. Rất may là với phẩm hạnh, Không với Có lại rất gần nhau. Không làm điều xấu, điều ác cũng có nghĩa là có phẩm hạnh. Vậy để giữ phẩm hạnh, đầu tiên phải biết nói “không”.
Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Sống là hành động.Vậy ngoài chuyện biết nói không, còn cần hành động nữa. Vấn đề là hành động thế nào?

Chuyện này quả thật cũng không dễ, khi phải xét xem trong muôn vàn hành động trong đời, đâu là hành động quan trọng nhất. Muốn vậy, phải lần tìm xem đâu là hành động ở cấp độ cơ bản nhất.

Để nói dài, nói đủ thì đó là chuyện của triết học. Còn ngắn gọn, thì đó là lựa chọn. Trên thực tế, có thể phân tích hầu hết mọi hoạt động của con người và máy móc thành chuỗi các lựa chọn liên tiếp. Vì thế, có thể coi lựa chọn chính là cấp độ cơ bản nhất của hành động.

Với con người, nếu xét trong mỗi quan hệ giữa hai thế giới bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân, thì lựa chọn nằm ở biên của hai thế giới này. Nhờ lựa chọn mà đời sống bên trong mỗi cá nhân được thể hiện ra bên ngoài. Lựa chọn vì thế là cầu nối và bản lề của hai thế giới.

Do đó, để bảo toàn được phẩm giá, cần bắt đầu bằng lựa chọn đúng. Cụ thể hơn là cần lựa chọn một bộ giá trị đúng để định chuẩn cho đời sống của mình. An toàn nhất, theo nghĩa khả năng phạm sai lầm thấp nhất, là dùng những bộ giá trị phổ quát đã được kiểm chứng sâu rộng theo cả hai chiều thời gian và địa lý làm chuẩn mực cho đời sống của mình.

Đọc Rừng Nauy của nhà văn Haruki Murakami, ta thấy một cảnh bức bí của một thế hệ người Nhật những năm 1960s. Anh có cảm nhận gì từ cái bức bí trong “Rừng Nauy” đến bức bí ở phố thị Việt Nam ngày nay?

Nhật Bản những năm 1960s trải qua những biến động rất lớn về xã hội. Phần vì hậu quả nặng nề của cuộc chiến, phần vì sự thay đổi chóng mặt của công cuộc tái thiết và phát triển sau chiến tranh. Việc nhìn lại mình sau cuộc chiến, sau những được mất đau thương cũng làm cho người ta dằn vặt trăn trở, nhiều khi có cảm giác ngộp thở không lối thoát.

Trong bối cảnh đó, thang giá trị của xã hội tất nhiên chưa định hình rõ ràng, mà đen xen nhau giữa các vùng tối sáng. Định hình được một bản sắc cho cá nhân và rộng hơn là cho cả xã hội, là rất khó khăn. Đó là nguyên nhân của những hoang hoải, bí bách của thế hệ người Nhật những năm 1960s.

Đời sống phố thị ở Việt Nam hiện nay cũng có một số nét tương đồng, nhưng ở cấp độ vừa thấp lại vừa cao hơn. Thấp hơn là bởi vì sự kiến tạo không diễn ra cấp tập như xã hội Nhật những năm 1960s. Nhưng cao hơn là vì những năm 1960s thì phương tiện truyền thông chính là ti vi, còn ngày nay là mạng máy tính toàn cầu, nên thông tin đến với người trẻ một cách ồ ạt.  Với thông tin đang có cuộc khủng hoảng thừa. Thừa thông tin và không biết làm gì với nó.

Nhưng điểm chung của thế hệ người Nhật những năm 1960s và người trẻ phố thị Việt Nam hiện nay là các thang giá trị cũ và mới còn chưa phân định rõ ràng. Cái mới còn chưa được định hình, trong khi cái cũ vẫn ngự trị dù lạc hậu. Điều này tất yếu dẫn đến cảm giác bất an, chới với, cô đơn.

Cộng hưởng với nó là những biến động cấp tập của đời sống xã hội, sự ích kỷ ngày càng lớn của cá nhân, cũng như sự giả dối ngày càng lan tràn như dịch bệnh, dường như đã làm các thế hệ trẻ không còn tin vào những “câu chuyện lớn” - những lý tưởng cao xa - mà tìm ý nghĩa trong những “câu chuyện nhỏ” - những mảnh vụn của đời sống thường ngày. Điều này tạo ra một cảm giác quẩn quanh bí bách, một sự mờ lòa ý nghĩa đời sống, nhiều khi đến mức nhạt thếch, trống rỗng.

Nhưng như đã nói ở trên, đó cũng không hẳn là điều xấu. Đó là dấu hiệu của một sự thay đổi sắp diễn ra. Chừng nào con người ta còn dằn vặt, trăn trở, còn hoang mang, mất phương hướng, còn cảm thấy đời sống bí bách vô nghĩa thì chừng đó còn có hy vọng. Chỉ sợ người ta không còn gì ngoài sự vô cảm ù lì. Khi đó mới thực sự đáng sợ.

Theo anh, giáo dục VN có vai trò gì trong việc giúp người trẻ định vị mình trước sóng gió khủng hoảng?

Rất tiếc là không có vai trò gì cả, vì bản thân giáo dục cũng đang gặp khủng hoảng mà không thể tự thoát ra được. Khủng hoảng trong giáo dục đã trở thành đề tài nóng suốt mấy chục năm qua. Nhiều nhà giáo dục uy tín đã nhiều lần lên tiếng đề nghị chấn hưng giáo dục, nhưng kết quả vẫn không được khả quan cho lắm. Như vậy, bản thân ngành giáo dục còn không cứu được mình ra khỏi khủng hoảng thì nói chi đến chuyện cứu người trẻ. Ở thời điểm này, nếu giáo dục không tạo thêm khủng hoảng cho người trẻ thì cũng đã là tốt lắm rồi.

Vậy nên, trong lúc chờ đợi giáo dục thay đổi, sẽ tốt hơn nếu mỗi người trẻ tự cứu mình. Nếu có thể, hãy coi khủng hoảng như một cơ hội để nhìn lại mình, loại bỏ cái cũ và định hình cái mới nếu cần thiết.

Khủng hoảng không đáng sợ nếu biết cách đối diện. Còn tự đánh lừa rằng mọi chuyện vẫn tốt, không hề có khủng hoảng thị lại nguy hiểm hơn nhiều. 

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

Đường về đam mê

Giáp Văn Dương

Đi tìm bản ngã

Mỗi cuộc đời đều có vô vàn ngả rẽ. Mà mỗi ngả rẽ lại là một con đường. Thế nên, mỗi cuộc đời có muôn vàn con đường đang đợi.

Có những con đường đã được bày vẽ trước. Có những con đường đã lờ mờ dấu chân đi. Nhưng cũng có những con đường phải tự mình khai phá, có thể trong cô đơn và xa lạ của người đời.

Giữa muôn vàn con đường như thế, chọn được một con đường đúng đã khó. Khai mở một con đường đúng còn khó khăn gấp bội.

Trong trường hợp đó, người ta thường cầu cứu đến sự mách bảo của lý trí hoặc trái tim. Nhưng nếu mách bảo của lý trí là đúng, thì sao người đời lại có nhiều sai lầm đến thế? Và nếu mách bảo của trái tim là đúng, thì sao cuộc đời lại có nhiều khổ đau đến vậy?

Câu trả lời thật đơn giản: lý trí hay trái tim cũng chỉ là một phần của con người mà đặt trọng bên nào cũng đều sai lệch.

Đằng sau lý trí và trái tim mà một tự do tĩnh lặng chứa đựng bản ngã của mỗi người. Vậy nên, thay vì lắng nghe lý trí hay trái tim, bạn hãy lắng nghe tự do của chính mình.

Vì lắng nghe tự do của chính mình mới là lắng nghe đích thực. Và tìm đường về với tự do của chính mình mới là tìm được con đường đích thực.

Ai sinh ra mà không muốn biết mình là gì trên cõi đời này. Có điều gì ý nghĩa hơn khi khám phá ra mình có ý nghĩa gì trên cõi đời này. Và vì thế, có con đường nào có ý nghĩa hơn con đường tìm về được chính mình?

Đường về chính mình, tôi đang nói đùa chăng? Không đâu bạn mến. Tôi không đùa đâu.

Đường về chính mình, ai sinh ra cũng đã có. Nhưng bề bộn cuộc đời đã che lấp nó đi. Bao nhiêu xô bồ, bao nhiêu phán xét, bao nhiêu luận thuyết cao siêu, bao nhiêu trào lưu cũ mới… đã như những đợt sóng xô bạn, xô tôi ra khỏi nơi mà lẽ ra chúng ta an ngụ.

Chúng ta đã bị phán xét của các loại lý thuyết sách vở, những ông bố bà mẹ khó tính, những người thầy khả kính biết tuốt, những bạn bè hàng xóm xung quanh, những trào lưu thời thượng, những sóng thông tin ngút ngàn bão cuốn chúng ta đi.

Chúng ta cũng bị thị phi, tiêu chuẩn, ràng buộc trói chúng ta lại, bắt chúng ta nhìn về một hướng, nghĩ theo một kiểu, lựa chọn theo một mô-tip và đi theo một con đường. Chúng ta mất tự do trở thành là chính chúng ta và vì thế, chúng ta cần phải đường để trở về chính mình, trở về với bản ngã của mình như lẽ ra chính mình phải thế.

Nếu không, chúng ta sẽ không thể định hình nổi một khuôn mặt, một cá tính, một đam mê, một ý nghĩa. Chúng ta vật vờ giữa cuộc đời như sản phẩm phụ của đời sống người đi trước, bị cuốn trôi trong các hoạt động sống của người đi cùng và gánh nặng cho người đi sau.

Đường về đam mê

Vậy trong lúc tĩnh lặng này, hãy lắng nghe tự do của bản thân mình để tìm đường về với bản thân mình bạn nhé.

Mỗi một phút một giây, một khoảnh khắc trầm lắng, cũng có thể là một chìa khóa để bạn mở con đường trở về với bản thân mình.

Hãy dũng cảm mở ra bạn nhé!

Có thể đó không là một con đường dễ dàng như con đường đã được người khác đã sắp đặt cho bạn. Nhưng đó sẽ con đường ngập tràn ý nghĩa vì nó dẫn tới tự do - sáng tạo - đam mê.

Nếu không tìm thấy bản thân mình thì sẽ không có tự do. Mà không có tự do sẽ không có sáng tạo và đam mê vì xưa nay, có sáng tạo nào là vay mượn không bản sắc và đam mê nào là lặp lại người đời?

Vậy nên, hãy lắng nghe tự do của bạn. Hãy tìm đường về với tự do của bạn. Tự do là bản thân mình. Tự do tỏa ra ánh sáng của riêng mình bạn nhé.

Bạn sẽ thấy, khi được tự do là bản thân mình, bạn sẽ thoát khỏi mọi ràng buộc vô nghĩa để bắt đầu một cuộc sống ý nghĩa. Có thể bạn sẽ không giàu có hơn, thành đạt hơn, nhưng chắc chắn, cuộc sống của bạn sẽ ý nghĩa hơn.

Bạn sẽ thấy, mỗi việc bạn làm đều tràn ngập hương vị của tự do, sáng tạo và đam mê. Bạn sẽ hòa hợp được với công việc của chính mình, với cuộc sống của mình và gia đình, và với sự phiền phức của cuộc đời để bước vào một hòa quyện lớn.

Bạn sẽ biết từ bỏ những điều hòa nhoáng nhưng vô nghĩa và đủ kiên nhẫn để theo đuổi những giá trị mà bạn hướng đến. Bạn sẽ bao dung với cuộc đời hơn vì cuộc đời sẽ không còn là gánh nặng nữa, mà là một tự do - sáng tạo - đam mê lớn.

Sóng gió của thị phi, đòi hỏi của ham muốn và những tính toan nhất thời cũng không chạm được vào bạn nữa, vì bạn đang an trú trong tự do của chính mình, trong sự thấu hiểu bản thân mình.

Vậy nên, trong lúc tĩnh lặng này, hãy lắng nghe tự do của chính mình để bước những bước đầu tiên trên đường của tự do, sáng tạo và đam mê bạn nhé.


---
Bài đã đăng báo Sinh viên Việt Nam, số Tết 2012.

Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

Đừng tìm dây để tự trói mình

05/07/2010 11:34:45

SV trường ĐH Vinh- Ảnh: Quỳnh Hoa
(SVVN)TS. Giáp Văn Dương trao đổi với SVVN về “mắt xích” giáo dục trong câu chuyện phát triển đất nước …


DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI
Trong một vài bài thuyết trình của mình, anh có nhắc đến câu chuyện nước Nhật. Bài học nào anh rút ra từ câu chuyện này?

Đúng là tôi có nhắc đến cuộc cải cách Duy Tân Minh Trị ở Nhật, với vai trò đặc biệt của Fukuzawa Yukichi. Bởi vì, cùng thời điểm này, ở Việt Nam, Nguyễn Trường Tộ cũng đã gửi lên triều đình Huế những bản tấu trình đề xuất cải cách đất nước. Tôi biết, mọi so sánh đều khập khiễng, do hoàn cảnh lịch sử, xã hội ở Nhật thời cải cách Duy Tân Minh Trị và ở Việt Nam lúc bấy giờ không hoàn toàn giống nhau.

Tuy nhiên, tôi cũng biết, nhờ so sánh mà có thể rút ra những bài học đáng suy ngẫm. Bài học ở đây là: Yukichi, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, đã dành phần lớn thời gian để dạy học, dịch sách, viết sách truyền bá tư tưởng cải cách, đổi mới. Còn Nguyễn Trường Tộ sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây thì viết các bản tấu trình gửi lên triều đình đề nghị canh tân đất nước. Khi triều đình không đồng ý bản này, ông viết bản khác, liên tục cho đến khi mất, dù những bản tấu trình đó không được sử dụng. Như vậy, có một điểm khác biệt lớn giữa 2 nhà cải cách này: Yukichi hoạt động như một trí thức độc lập, còn Nguyễn Trường Tộ như một trí thức cận thần. Chính điều này đã làm nên sự khác biệt cơ bản giữa hai ông. Cũng là điều mà những người đi sau cần suy ngẫm.

Trường hợp nước Nhật, khi nội bộ nước này xảy ra đấu đá và nội chiến, đe dọa đến sự thành công của cuộc cải cách, trường Đại học KeiM-gijuku (*), do Yukichi lập nên, lúc này chỉ còn 18 sinh viên. Nhưng Yukichi đã nói với sinh viên của mình rằng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Giap_Van_Duong.jpg

TS Giáp Văn Dương

Nghĩa là, theo anh, cần có sự độc lập tương đối của trí thức để những đề xuất cải cách không chịu sự chi phối của yếu tố chủ quan?

Đúng vậy. Trí thức nên là những người độc lập, ở mức độ càng cao càng tốt. Nhiều trí thức nghĩ rằng tham gia vào chính sự sẽ giúp họ thay đổi, cải cách đất nước nhanh hơn. Tuy nhiên, đó là cách xây nhà từ nóc chứ không phải từ móng và mang tính cầu may. Vì việc chính sự thường quan tâm đến những mục tiêu ngắn hạn, tức thời trong hiện tại, trong “nhiệm kỳ này”, chứ ít khi hướng đến những mục tiêu dài hạn, đích đến của những cuộc cải cách lớn.

Một đất nước muốn phát triển thì dân trí, hạ tầng tư duy, hạ tầng con người phải tốt. Nếu như chỉ chọn những giải pháp tình thế, ăn ngay mà không tập trung nâng cao dân trí, đổi mới tư duy thì mọi giải pháp, xét về dài hạn đều sẽ thất bại.

HẠ TẦNG TƯ DUY

Theo anh, điều gì là quan trọng nhất đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay?

Đó là vốn con người. Nhắc đến vốn thường làm người ta nghĩ ngay đến tiền. Cũng như nhắc đến cơ sở hạ tầng kinh tế là người ta nghĩ ngay đến đường sá, cầu cống, v.v. Nhưng trên thực tế, tài nguyên trí tuệ mới là tài nguyên quan trọng nhất. Và hạ tầng tư duy quan trọng hơn hạ tầng kinh tế truyền thống.

Anh có thể nói qua về một khái niệm, khá mới, “hạ tầng tư duy”?

Hạ tầng tư duy là toàn bộ những gì góp phần khai mở, hỗ trợ, giải phóng và phát huy khả năng tư duy của cá nhân và cộng đồng. Trong các yếu tố tạo nên hạ tầng tư duy, thì có ba yếu tố quan trọng nhất là: [1] thành tựu tư tưởng của nhân loại, [2] hệ tư tưởng/quan điểm được sử dụng; và [3] tự do học thuật. Vì thế, muốn cải tạo hạ tầng tư duy thì phải tiếp thu càng nhiều thành tựu của nhân loại càng tốt, điều chỉnh nếu nó đã lạc hậu và khuyến khích, tạo điều kiện cho tự do học thuật, tự do phản biện

Vậy theo anh, trong việc phát triển hạ tầng tư duy một quốc gia, các vựa tư duy (think-tank) đóng vai trò thế nào?

TS. Giáp Văn Dương: Think-tank là nơi đưa ra những lời khuyên với chất lượng chuyên môn cao cho những nhà hoạch định và thi hành chính sách. Think-tank cũng giúp thu thập và xử lý tri thức rồi lan tỏa ra toàn xã hội. Như vậy, nó làm cho những tri thức có chất lượng được lưu thông, kết nối tạo dựng thành mạng lưới. Ở ta cũng có nhiều các think-tank, nhưng đa phần không hoàn thành vai trò của mình, vì không giữ được vị trí độc lập và đơn thuần là một cơ sở chuyên môn để đưa ra những đánh giá khách quan. Ở các nước phát triển, Nhà nước phải dựa vào rất nhiều think-tank, thậm chí một chính trị gia cũng có thể dựa vào bộ phận này để có thể đưa ra một chính sách, hoặc nhỏ hơn, là một ứng xử đúng đắn.

Do phân công lao động và sự phức tạp của xã hội hiện đại, con người tư duy, lãnh đạo, thừa hành và kiểm tra nên tách bạch. Không nhất thiết nhà lãnh đạo phải ôm đồm làm cả bốn việc trên. Tuy nhiên, sự ôm đồm này lại thường thấy ở Việt Nam.

Theo anh, những nước sử dụng thành công trí thức vào phát triển kinh tế có đặc điểm gì?

Họ tôn trọng trí thức. Không độc đoán, mà đối thoại thay vì độc thoại. Họ xác định đi tìm sự đồng thuận chỉ có qua con đường đối thoại, chứ không thể bằng con đường áp đặt.

MẮT XÍCH GIÁO DỤC

Quay lại câu chuyện nước Nhật, khi nhận ra điểm yếu của mình, họ đã làm gì?

Người Nhật lúc đó xác định: dân trí và văn hóa là những mắt xích quan trọng nhất cần thay đổi để phát triển đất nước. Do đó, họ bắt đầu thay đổi giáo dục: kiên quyết từ bỏ lối học tầm chương trích cú, học chỉ để làm quan. Họ đã chuyển sang lối học để làm việc, để mở mang hiểu biết, tiếp thu và hội nhập với văn minh nhân loại. Nghĩa là họ tập trung nâng cao dân trí và chất lượng người dân. Họ không tự cô lập mình về mặt tư tưởng. Quan trọng hơn, họ chủ động gia nhập dòng chảy của thời đại.

Còn chúng ta, đã có nhiều thời điểm chúng ta nhìn thấy những dòng chảy của thời đại. Nhưng nhiều lần, hoặc chúng ta từ chối, hoặc chúng ta lỡ nhịp. Đến khi nhận ra thì đã chậm mất rồi. Lý do có nhiều, song chúng ta chưa quyết đoán để bước vào.

Rõ ràng, ở ta, cũng đã xác định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, nhưng loay hoay mãi mà chất lượng giáo dục vẫn chưa được đánh giá cao. Góc nhìn của anh về chuyện này là gì?

Cải cách giáo dục phải theo hướng thực chất, học để hành, để làm việc, để mở mang hiểu biết chứ không phải để có bằng cấp… Ở ta, cải cách giáo dục chưa thành công vì cải cách nửa vời, vì cản trở từ chính hệ thống giáo dục, và sâu hơn là từ văn hóa, từ cơ cấu kinh tế và hệ thống công quyền. Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, người Việt ta rất thích bằng cấp.

Về mặt văn hóa: Ngày xưa học để làm quan thì nay học để có bằng. Dù tốt nghiệp đại học nhưng chỉ để làm công việc (nhẽ ra) của người tốt nghiệp trung cấp dạy nghề. Nhưng nhất định phải cố kiếm được mảnh bằng đại học mới an lòng.

Về mặt kinh tế: Các công ty, cơ quan Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế -xã hội, bộ máy hành chính cồng kềnh, nhưng tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ công chức còn nhiều bất hợp lý. Đây chính là mảnh đất tốt để tiêu cực chen chân. Điều đó dẫn đến việc nếu có một tấm bằng, dù là bằng giả, người ta vẫn có thể chui vào làm việc trong hệ thống, bằng cách này hoặc cách khác. Nói cách khác, bằng cấp, kể cả bằng giả, vẫn còn đất sống, nên người ta vẫn có nhu cầu.

Thêm nữa, xung đột lợi ích, tư duy nhiệm kỳ, tầm nhìn hạn hẹp, bệnh thành tích – phong trào… cũng là những vấn đề đang còn phải khắc phục.

Vậy theo anh, lối đi nào là phù hợp cho giáo dục đại học ở ta?

Giáo dục Đại học của ta thực sự đang có rất nhiều vấn đề. Ở đây tôi chỉ bàn đến một vấn đề, là: nhiều người đổ lỗi cho việc cải cách giáo dục thất bại vì chưa có triết lý giáo dục đúng dẫn dắt. Nhưng thực ra, cải cách đi vào vòng luẩn quẩn cũng vì ta cứ cố tìm cái triết lý giáo dục vô hình kia để bám vào. Lẽ ra, ta cần tính đến chuyện mở ra những đại lộ lớn cho giáo dục đại học dấn bước. Những đại lộ đó chính là những định hướng lớn cho việc cải cách hệ thống, mà theo tôi, đó là: Mở, Sáng tạo, Toàn diện, Hiện đại và Hội nhập.

Mở về nội dung, về chương trình, về cơ cấu để mọi thành phần đều có thể tham gia và thụ hưởng giáo dục, và tri thức mới có cơ hội được truyền tải; Sáng tạo là yếu tố, phẩm chất quan trọng nhất mà nền giáo dục cần hướng tới; Toàn diện về loại hình và nội dung giáo dục; Hiện đại về tri thức giảng dạy; và Hội nhập để liên thông và hội tụ cùng những chuẩn của giáo dục thế giới. Tại sao chúng ta không thiết kế và cải cách hệ thống theo những định hướng đó, mà lại đi tìm một sợi dây mang tên “triết lý giáo dục” để tự buộc mình. Ai biết được hình thù của sợi dây đó thế nào, và tồn tại được bao lâu thì lạc hậu!?


Xin cảm ơn anh!
-------------
(*) Keiò-gijuku là trường đại học tư thục hiện đại đầu tiên và hiện nay vẫn là một trong những trường đại học tư lớn, có chất lượng giáo dục uy tín hàng đầu của Nhật Bản.

TS Giáp Văn Dương: Tốt nghiệp Tiến sĩ Vật lý tại Đại học Công nghệ Viên (Áo) năm 2006. Đã từng làm việc tại Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Công nghệ Viên (Áo), Đại học Liverpool (Anh).

Lê Ngọc Sơn (thực hiện)

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

Khám phá những con đường



(Bài đăng trên Sinh viên Việt Nam số Tết, 26/01/2010, nhưng bị biên tập mất đoạn hay nhất (vì "nhạy cảm" hay lý do gì khác, sẽ hỏi lại cho rõ). Sẽ đăng lại bản thảo để bà con đọc chơi)


(SVVN) Người ta thường nói đến việc chinh phục các đỉnh cao mà không mấy ai nghĩ đến việc khai phá những con đường.


Chinh phục đỉnh cao là khó khăn, là gian nan, là vinh quang và đáng ghi nhận. Không có khát vọng cháy bỏng, không có đam mê cùng cực thì không thể vươn tới những đỉnh cao, dù ở bất cứ lĩnh vực nào.

Khi đạt đến đỉnh cao, cảm giác vinh quang thường ùa đến cùng những lời ca ngợi. Nhưng khi khai phá những con đường mới, người mở đường thường sống trong sự cô đơn và hiểu lầm, đôi khi dè bỉu của người đời, vì cái mới, cái khác thường bao giờ cũng là cái khó chấp nhận đối với số đông.


Khai phá những con đường, vì thế cũng gian nan và cần đam mê không kém gì chinh phục những đỉnh cao. Người mở đường, thường phải mò mẫm trong bất định, nên cần bản lĩnh, đôi khi cao hơn cả người chinh phục những đỉnh cao định trước.

Nhưng nhờ có họ mà những con đường mới được mở ra, hữu hình và vô hình. Những con đường của tư duy, của cách sống, cách làm việc, của cách ứng xử với bản thân mình, cộng đồng và môi trường, của cách vươn lên để đạt được một tầm cao mới.

Những con đường của tự do, của giải phóng bản thân khỏi những quán tính và thói quen đã ăn sâu vào não bộ. Những con đường của khát vọng tìm kiếm một chân trời mới thênh thang rộng mở.

Những con đường còn ngủ quên chờ người đánh thức.
Ngày xưa Lỗ Tấn viết: "Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kỳ thực, trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường mà thôi". Biết bao thế hệ đã tin như thế. Những con đường có được do người đi mãi mà thành.

Nhưng bạn ơi, tôi mong bạn khoan vội tin như thế. Những con đường có được không chỉ do người đi mãi mà thành. Những con đường có được còn là do người khai phá.
Những con đường của sáng tạo, chưa có một dấu chân người. Những con đường mở ra cả một chân trời mới.
Những con đường làm mới bạn và tôi. Những con đường làm mới cuộc sống vốn đã quá tẻ nhạt.
Những con đường đẩy lùi sự sợ hãi và dốt nát. Những con đường mang đến hy vọng, hạnh phúc và bình an.

Con đường do bàn tay mình khai phá, bàn chân mình dẫn bước là con đường của tự do, quí giá, tinh khôi. Những con đường của tư duy. Những con đường nối liền quá khứ-hiện tại-tương lai sẽ đưa bạn, đưa tôi, đưa đất nước bước tới những chân trời mới

Giáp Văn Dương (ĐH Liverpool- Anh)

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Không ai dạy tôi ước mơ

(Tít do Tòa soạn đặt. Phần giới thiệu của Tòa soạn hơi quá, làm tui thấy... ngại làm sao ý)


(26/10/2009) (SVVN) TS Giáp Văn Dương (Khoa Hoá, Đại học Liverpool) là cái tên khiến cho nhiều sinh viên người Việt đang theo học ở Anh luôn cảm thấy tự hào.


TRƯỞNG THÀNH TỪ… KHÔNG ƯỚC MƠ

Anh có thể mô tả qua công việc của mình?

Tôi nghiên cứu các loại vật liệu mới, như các hạt nano từ nhằm ứng dụng cho lĩnh vực y-sinh học, hoặc các loại vật liệu mới đa chức năng, có thể thay thế những vật liệu cũ đắt đỏ, độc hại hoặc đơn giản là để hiểu thêm một tính chất mới.

Ước mơ lớn nhất của anh hồi nhỏ là gì?

Thật xấu hổ khi phải nói là hồi nhỏ tôi không có ước mơ. Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn, nơi đó mọi người thường chỉ chăm chú làm việc đồng áng, mùa vụ từ sáng sớm đến tối mịt mà quên mất những ước mơ. Tôi cũng vậy, như cây lúa, đến ngày đến tháng thì làm đòng, trổ bông. Hết phổ thông, tôi vào đại học.

Vậy động lực nào để một thanh niên nông thôn vượt từ tư duy "lũy tre làng" sang "tư duy toàn cầu"?

Thực sự, ban đầu là do mình tò mò. Tò mò muốn biết thế giới bên ngoài Việt Nam họ sống và làm việc thế nào. Sau đó là do nhu cầu, tôi nghĩ mình cần phải thay đổi từ tư duy Việt Nam, không phải là tư duy sau lũy tre làng, sang tư duy toàn cầu.

Muốn thành công, ít nhất cũng phải ngang bằng ở mức độ tư duy so với bên ngoài. Nếu thua ở ngay khâu tư duy, khâu lên kế hoạch, thì thất bại là chắc chắn.

Từ khi nào anh nghĩ đến chuyện đến làm việc ở một trường đại học quốc tế như Đại học Liverpool?

Từ năm 2006, sau khi tôi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Công nghệ Vienna (Áo). Tôi muốn hoàn thiện thêm kỹ năng nghiên cứu, và muốn xem nghiên cứu trong các trường đại học Anh khác với các nước khác, cụ thể là Việt Nam, Hàn Quốc và Áo (những nơi tôi đã theo học và làm việc) như thế nào.

Tôi cũng muốn trực tiếp tìm hiểu thêm hệ thống giáo dục Anh, vì thời gian đào tạo ngắn, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, và thu hút một lượng sinh viên quốc tế khổng lồ đến du học. Tôi quan tâm đến giáo dục, nên muốn tìm hiểu và trực tiếp trải nghiệm nhiều nền giáo dục khác.

Tại sao hồi sinh viên anh lại chọn và theo đuổi ngành Hóa học?

Tôi chọn ngành Hóa dầu của Bách khoa vì ngày đó cả nước đang hồ hởi với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất. Nhưng do việc xây dựng chậm tiến độ, nhà máy hoàn thành sau khi tôi ra trường được mười năm.

Ngần đó thời gian đủ để đưa tôi sang học và làm việc ở những ngành khác như Vật lý, Công nghệ nano, nên hiện giờ, tôi làm lĩnh vực liên ngành, chứ không chỉ thuần túy là Hóa học.

Theo anh, sự chọn ngành nghề thời đại học có ảnh hưởng đến sự thành đạt của một người không?

Ban đầu thì có, nhưng càng về sau sự ảnh hưởng càng ít. Người ta sẽ dần dần trở về với điều mình thực sự đam mê. Sự thành công suy cho cùng là kết quả của một sự phấn đấu lâu dài chứ không phải là sự lựa chọn một vài bước đi ban đầu nào đó.

Nếu đi sai những bước ban đầu, hãy dũng cảm rẽ sang đường khác, con đường mà mình mong muốn, càng sớm càng tốt.

Như anh nói ở trên, hồi nhỏ anh không có ước mơ. Vậy điều gì là quan trọng nhất để một người trẻ (như anh) có thể thành công?

Đó là phải có một nền tảng văn hóa tốt, sáng tạo, giao tiếp hiệu quả và bước đi không ngừng. Nền tảng văn hóa tốt, bao gồm cả nền tảng giáo dục, làm cho mình cảm thấy tự tin, vững vàng ở tất cả mọi nơi.

Sáng tạo là con đường đi đến thành công trong sự cạnh tranh gay gắt hiện nay. Còn giao tiếp hiệu quả và bước đi không ngừng giúp cho những kế hoạch và dự định trở thành hiện thực.

Ngoài chuyên môn, anh còn quan tâm đến lĩnh vực nào?

Giáo dục, văn hóa và chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Vì tôi cho rằng, nâng cao chất lượng giáo dục là con đường duy nhất để Việt Nam có thể phát triển nhanh và bền vững.

Giữ vững bản sắc văn hóa là cách duy nhất để giữ cho dân tộc trường tồn, không bị đồng hóa, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa và Internet, sự xâm thực của văn hóa lạ, văn hóa ngoại lai đang trở nên báo động, đe dọa nghiêm trọng văn hóa Việt.

Còn chủ quyền biển đảo là thiêng liêng ngàn đời của cha ông truyền lại, cần phải gìn giữ.

ĐIỀU QUAN TRỌNG ĐỂ THÀNH CÔNG

Anh có kinh nghiệm gì chia sẻ với các bạn sinh viên trẻ?

Hãy chọn một thứ mình thực sự đam mê, có thể chìm đắm với nó, kiên nhẫn với nó, hiểu nó thật kỹ và tìm cách đi qua những giới hạn mà người khác đã đạt được bằng sự sáng tạo và cần mẫn của chính mình.

Triết lý sống mà anh đang theo đuổi là...?

Đơn giản, hoàn hảo và đẹp ở mức cao nhất có thể. Đơn giản làm cho cuộc sống dễ chịu hơn. Ước vọng hoàn hảo làm cho người ta phải phấn đấu. Còn đẹp làm cho người ta thấy yêu và nhân ái với cuộc sống này hơn.

tai mot trang trai trong da^u o Anh.jpg

Nếu có một ước muốn trở thành sự thật, anh sẽ chọn điều nào trong những điều sau:

A) Đoạt giải Nobel Hóa học 2015.

B) Nhận một lời mời hấp dẫn từ Bộ GD&ĐT Việt Nam đảm trách một cương vị rất quan trọng.

C) Một giảng viên bình thường ở một trường đại học ở Việt Nam, nhưng chế độ đãi ngộ xứng đáng.

D) Một doanh nhân giàu có số 1 châu Á.

Tôi không chọn điều nào cả, bởi tất cả những điều đó đều là những thứ viển vông. Hồi nhỏ, tôi không có ước mơ vì không ai dạy tôi ước mơ. Giờ thì tôi biết, nên ước mơ những điều có thể thực hiện được. Vì nếu không, sẽ phí hoài thời gian và năng lượng vào những mơ ước viển vông.

Nobel vào năm 2015 là một điều không tưởng với bất cứ người Việt Nam nào. Việt Nam cần hàng chục năm, thậm chí lâu hơn nữa, để có thể chạm tay vào giải Nobel.

Một lời mời hấp dẫn từ Bộ GD& ĐT hoặc một giảng viên bình thường nhưng chế độ đãi ngộ xứng đáng chắc chắn cũng không xảy đến trong hoàn cảnh hiện nay.

Còn doanh nhân số 1 châu Á, điều này hấp dẫn, nhưng tôi không có ý định theo đuổi con đường kinh doanh, nên nó nằm ngoài dự định của tôi.

Vậy nếu được chọn một điều gì đó, anh sẽ...?

Có thật nhiều bạn trẻ tham gia vào dự án Tri Thức Mở mà tôi sáng lập: biên dịch tài liệu các khóa học của các trường đại học hàng đầu thế giới ra tiếng Việt. Hiện tại, chúng tôi đang rất thiếu người. Hãy tham gia và chung tay cùng chúng tôi.

Điều gì khiến anh tồn tại và khẳng định bản thân?

Một nền tảng kiến thức rộng và một chuyên môn sâu. Ý tưởng mới và sự chăm chỉ đóng vai trò quyết định. Hợp tác hiệu quả với đồng nghiệp, bạn bè cũng rất quan trọng.

Theo cảm nhận của anh, điều gì đáng lo ngại nhất cho thế hệ trẻ hiện giờ?

Chông chênh, đôi khi nhầm lẫn giữa các thang giá trị. Sống chậm và sống vội cùng một lúc. Thích a dua, theo đuổi những thứ phù phiếm. Đến khi ra trường vẫn chưa định hình nổi một tính cách, một khuôn mặt. Rất đáng buồn và chẳng hay ho gì khi nói ra điều đó!

Anh làm gì vào thời gian rảnh rỗi?

Thăm bảo tàng, tụ tập bạn bè, uống trà Việt, đọc sách, chơi với con… Nếu có thời gian dài hơn thì đi du lịch và thăm bạn ở những thành phố khác.

Anh có dự định gì trong tương lai gần?

Biên dịch các khóa học ra tiếng Việt và viết bài, tài liệu về một số chủ đề mà tôi yêu thích. Làm một số việc mà tôi cho rằng có ích cho Việt Nam.

Và có ý định anh sẽ về Việt Nam không?

Những việc tôi làm sẽ dẫn tôi trở lại Việt Nam. Khi tôi thấy có công việc phù hợp, có thể phát huy đuợc khả năng của mình. Cũng có thể, tôi sẽ trở về khi cảm thấy đã đến lúc phải trở về, vì như đã nói ngay từ đầu, tôi là một người thuần Việt, nên dù đi đâu cũng vẫn hướng về Việt Nam.

Cảm ơn anh!

LÊ NGỌC SƠN (Thực hiện)

TS Giáp Văn Dương
Khoa Hóa học, Đại học Liverpool.
Sinh năm 1976 tại Bắc Giang.
Tốt nghiệp kỹ sư ngành Hóa dầu Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1999, tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Công nghệ Hóa học ĐH Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc) năm 2002, tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Vật lý kỹ thuật ĐH Công nghệ Vienna (Áo) năm 2006. Hiện làm việc tại ĐH Liverpool (Anh).



© SVVN Online
Cơ quan chủ quản: Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Số giấy phép: 125/GP-BVHTT, cấp ngày 16/04/2003 và CV cho phép nâng cấp số 26/BC của Cục Báo chí-Bộ VHTT ngày 08/01/2007
Tổng biên tập: Nguyễn Huy Lộc - Tòa soạn: Số 5 Hòa Mã, Hà Nội
® Ghi rõ nguồn "Sinh Viên Việt Nam" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Các trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. Sinh Viên Việt Nam không chịu trách nhiệm nội dung các trang ngoài.


Nguồn: Sinh viên Việt Nam, ngày 26/10/2009: http://www.svvn.vn/vn/news/nhanvat/2753.svvn

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2009

Xây dựng hạ tầng tư duy


Thứ ba, 11/8/2009, 10:57 GMT+7

Nhìn vào cấu trúc của hạ tầng tư duy thì thấy, điều cần thiết đầu tiên để hình thành hạ tầng tư duy chỉ là một môi trường tự do học thuật, tư tưởng và trao đổi đúng nghĩa. Ảnh: phapluattp.vn

Khi tư tưởng của mọi cá nhân, nhất là của tầng lớp trí thức được giải phóng và tự do lưu thông, trao đổi thì hạ tầng tư duy sẽ từng bước hình thành. Mà điều này, đôi khi chỉ xuất phát từ một vài văn bản của Nhà nước.

Tiếp đó, phải củng cố và bồi đắp tất cả các yếu tố cấu thành hạ tầng tư duy.

Các thành tựu tư tưởng của nhân loại phải được giới thiệu và truyền bá càng nhiều càng tốt, tạo thực đơn lựa chọn phong phú cho cá nhân và lãnh đạo trong việc chọn hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng, hình thành những khung mẫu tư duy mới, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn một cách sáng tạo, hiệu quả.

Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng cũng cần được cập nhật, xem xét lại một cách thường xuyên trên cơ sở những thành tựu tư tưởng mới của nhân lọai và có những điều chỉnh phù hợp khi điều kiện kinh tế, lịch sử, văn hóa cụ thể của đất nước đã có sự thay đổi hoặc thời cuộc đã có những biến đổi đáng kể.

Xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý hỗ trợ sao cho mọi cá nhân đều được khuyến khích tham gia vào việc hình thành và phát triển hạ tầng tư duy. Những cá nhân có đóng góp quan trọng cần được trân trọng và tưởng thưởng. Những sản phẩm tư duy có giá trị cần được bảo vệ.

Các thói quen và kĩ năng tư duy tích cực, hiệu quả như tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, tư duy hệ thống cần được giới thiệu, phổ biến và huấn luyện cho đại chúng, nhất là học sinh, sinh viên. Những thói quen tư duy tiêu cực, kém hiệu quả như tư duy đối phó, tư duy cục bộ, tư duy một chiều cần được loại bỏ.

Tác giả: TS Giáp Văn Dương

Tốt nghiệp kĩ sư Đại học Bách khoa Hà Nội ngành Hóa Dầu năm 1999, Thạc sĩ Đại học Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc) ngành Công nghệ Hóa học năm 2002, Tiến sĩ Đại học Công nghệ Vienna ngành Vật lý kĩ thuật (PhD) năm 2006. Hiện làm việc tại Đại học Liverpool, Anh.

Văn hóa, môi trường làm việc cũng cần được chỉnh trang, sửa đổi và cải tạo sao cho lành mạnh, cởi mở, tôn trọng sự khác biệt. Giao tiếp, trao đổi và cộng tác hiệu quả cần được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Quan liêu, áp đặt, cá nhân, cục bộ cần được loại bỏ thẳng thừng.

Lưu thông, trao đổi tư tưởng giữa các cá nhân cần được khuyến khích và bảo vệ. Tự do học thuật, tự do tư tưởng cần được đảm bảo. Chỉ có như thế, hạ tầng tư duy mới thông thoáng, lành mạnh và kết thành hệ thống vững chắc, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Cũng chỉ có như thế, hoạt động tư duy của mỗi cá nhân mới có thể góp phần kiến tạo và phát triển hạ tầng tư duy cho đất nước. Nếu không có sự liên thông trao đổi, hạ tầng tư duy sẽ mãi mãi xập xệ, nghèo nàn vì chỉ là một mớ tư duy manh mún của các cá nhân cô lập.

Tuy chi phí đầu tư cho hạ tầng tư duy rất thấp, gần như là bằng không nếu so sánh với tổng đầu tư cho hạ tầng kinh tế, nhưng vai trò của hạ tầng tư duy lại lớn hơn vai trò của hạ tầng kinh tế trong việc phát triển đất nước. Vì hạ tầng tư duy đóng vai trò nâng đỡ, định hướng và dẫn dắt mọi hoạt động của xã hội, đảm bảo cho mọi kế hoạch được thành công ở mức cao nhất.

Không có hạ tầng tư duy làm cơ sở, những khoản đầu tư khổng lồ của hạ tầng kinh tế sẽ rơi vào lãng phí, kém hiệu quả, thậm chí phản tác dụng vì hủy hoại môi trường.

Vươn lên từ hạ tầng tư duy

Tư duy đẻ ra tư duy. Hạ tầng tư duy tốt sẽ đẻ ra những sản phẩm tư duy có giá trị. Những cá nhân có khả năng đóng góp vào việc kiến tạo hạ tầng tư duy cho dân tộc cần được trân trọng và tạo điều kiện phát huy tối đa khả năng của mình. Năng lực tư duy của mọi cá nhân cần được giải phóng.

Lấy trường hợp nhà triết học Trần Đức Thảo làm ví dụ. Ông là nhà triết học ở tầm quốc tế, được thế giới biết đến và trích dẫn. Những công trình của ông, dù không dễ đọc với đa số quần chúng, nhưng có tác dụng tạo nền tảng tư duy cho xã hội.

Tư duy cần được, và phải được, giải phóng một cách triệt để. Ảnh: IPL

Nhưng rất tiếc, trong suốt một thời gian dài, chúng ta không khai thác tối đa khả năng tư duy của ông cũng như nhiều trí thức lớn khác, để bây giờ, những thế hệ đi sau phải ngậm ngùi trước một khoảng trống mênh mông của triết học và tư tưởng Việt Nam hiện đại.

Nếu chú trọng xây dựng hạ tầng tư duy trong mấy chục năm qua, có thể chúng ta đã có không chỉ một, mà nhiều Võ Nguyên Giáp, Trần Đức Thảo trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, được thế giới biết đến và thừa nhận. Quan trọng hơn, có thể chúng ta đã có được một hạ tầng tư duy tốt, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, trưởng thành và có vị thế cao hơn so với hiện giờ.

Nhìn sang các nước phát triển, thấy rằng họ phát triển được phần nhiều đều dựa vào một hạ tầng tư duy vững chắc và thông thoáng, có tác dụng tham vấn cho việc ra các chính sách lớn của lãnh đạo và định hướng cho mọi hoạt động của cá nhân và cộng đồng.

Họ cũng biết cách bồi đắp và phát triển hạ tầng tư duy qua các chính sách giáo dục và bồi dưỡng nhân tài. Chiến tranh, thiên tai có thể tàn phá cơ sở sản suất, nhà xưởng, đường xá chứ không thể tàn phá hạ tầng tư duy của đất nước. Điều đó giải thích vì sao những nước thua trận trong thế chiến thứ II như Đức, Nhật vẫn có thể vươn lên mạnh mẽ từ đống tro tàn.

Còn chúng ta, sau hơn ba mươi năm hòa bình, vẫn bếp bênh ở ngưỡng thoát nghèo, và phải đương đầu với vô số nan đề trong nỗ lực đuổi kịp các nước trong khu vực.

Hơn lúc nào hết, chúng ta phải bắt tay xây dựng và phát triển hạ tầng tư duy cho đất nước, mà khởi đầu là giải phóng năng lực tư duy của mọi cá nhân.

Tư duy cần được, và phải được, giải phóng một cách triệt để.

  • Giáp Văn Dương

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2009

Có một thế giới khác

(Bài đăng trên tuần báo Sinh viên Việt Nam ngày mai, 08-15/06/09)

Duong Giap & Sue Purnell

(Đại học Liverpool, Anh)


Một cách nghĩ, cách học tập khác sẽ tạo ra một con người khác. Một con người khác sẽ tạo ra một thế giới khác. Điều này cần được nhìn nhận, thảo luận và thực hiện.

Tin và nhớ hay hoài nghi và cải tiến?

Năm 2001, tôi nhận ra có một thế giới giáo dục khác so với những gì mà tôi trải nghiệm. Và tôi muốn thấy nó. Cho nên, tôi đã tạm dừng khóa học cao học sắp kết thúc ở trong nước để sang Hàn Quốc bắt đầu lại từ đầu. Một thế giới học tập mới mở ra trước mắt tôi.

Chín năm sau, ở trường Đại học Liverpool xứ Anh quốc xa xôi, tôi và một người bạn - Sue Purnell - trò chuyện về sự khác nhau giữa các nền giáo dục Á-Âu, đặc biệt là giáo dục Việt Nam và Anh. Chúng tôi cùng nhất trí với nhau rằng, có những nền giáo dục khác nhau hiện hữu. Chúng tôi thích thú khi nhận ra điều đó, và cả hai đều muốn phám phá sự khác biệt đó, để hiểu chúng rõ hơn. Chúng tôi cho rằng, sẽ tốt hơn nếu vấn đề này được thảo luận rộng rãi, để qua đó, hiểu rõ hơn nền giáo dục của chúng ta, và trong một mức độ nào đó, giới thiệu những khái niệm mà chúng tôi cho rằng sẽ giúp ích cho sinh viên Việt Nam.

Khi nghĩ về quãng thời gian học Đại học, điều rõ nhất mà tôi nhớ được là ngày ngày cắp sách đến giảng đường, nghe và chép bài mà hầu như không đặt câu hỏi bao giờ. Hầu như không có thảo luận hoặc làm việc theo nhóm. Sinh viên luôn tin tưởng rằng những điều được giảng dạy là chân lý, là những tri thức tốt nhất. Chúng tôi học theo cách tin và nhớ, chứ không phải là nghi vấn và cải tiến. Chúng tôi cố gắng để “biết điều đó” chứ không phải “biết làm thế nào”.

Ở Hàn Quốc, mọi chuyện tốt hơn. Ở đó, chúng tôi làm việc theo nhóm cùng giáo sư và các sinh viên khác. Chúng tôi thảo luận thường xuyên. Điều duy nhất làm tôi không hài lòng ở đó là khoảng cách và thái độ bề trên thái quá của các vị giáo sư Hàn Quốc. Sinh viên coi giáo sư như một ông vua con, có lẽ là do văn hóa khổng giáo đặc thù của Hàn Quốc. Dù không thích, nhưng tôi biết cách người Hàn Quốc làm việc là hiệu quả. Bằng chứng là họ đã đạt được những thành tựu rất đáng khâm phục. Còn cách mà chúng ta làm việc thì không. Chúng ta đã không thể tiến hành công cuộc phát triển đất nước thành công như mong đợi.

Sau đó, mọi việc thay đổi rất nhiều khi tôi sang Áo để làm nghiên cứu sinh và khi sang Liverpool làm việc. Ở hai nơi này, mọi người làm việc khác hẳn người Hàn hoặc người Việt. Sinh viên và giáo sư khá bình đẳng với nhau. Thảo luận và làm việc cùng nhau đôi khi thân thiết như với bạn bè. Cách làm việc kiểu châu Âu như thế này đặt nền tảng trên cơ sở cá nhân, nhưng mọi việc đều được tiến hành thông qua thảo luận, phác thảo, lên kế hoạch và cải tiến sao cho tốt hơn. Trong lớp học, chúng tôi có thể đặt câu hỏi và thảo luận bất cứ lúc nào. Cách làm việc này rất hiệu quả, thể hiện ở thành quả mà người châu Âu đạt được. Vậy thì, câu hỏi tự nhiên phải đến là: chúng ta có thể học hỏi được gì từ hai cách làm việc này? Và chúng tôi có thể chia sẻ được điều gì với các bạn? Chúng tôi đã đề xuất một vài gợi ý để các bạn xem xét:

Độc lập hơn nữa

Đây là điều quan trọng nhất. Vì không có nó, người học sẽ phụ thuộc vào giảng viên mãi mãi. Một đứa trẻ trưởng thành khi có thể sống độc lập. Một người sẽ chỉ là một học viên thực sự, và sau đó là một học giả, khi người đó có thể suy nghĩ và học tập độc lập theo cách của riêng mình.

Ở Việt Nam, học viên trông chờ vào giảng viên trong việc tìm kiếm, xử lý và tổ chức tri thức. Giảng viên là người cung cấp tất cả những tri thức mà học viên cần. Người học thường chỉ học trong giáo trình mà ít khi tìm kiếm những nguồn tài liệu khác, rất thụ đông và ít cố gắng để phát triển tư duy độc lập và tư duy phê phán. Người học thường lảng tránh nêu ý kiến hoặc đặt câu hỏi, nhưng lại sẵn lòng nghe giảng và tuân theo chỉ dạy. Ngày qua ngày, điều này hình thành một thói quen phụ thuộc, tin tưởng, và thậm chí tôn thờ những điều được dạy. Cách học này truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo ra mẫu người phụ thuộc kiểu-học-sinh, thậm chí ngay cả khi họ đã tốt nghiệp hoặc đã trở thành giảng viên đại học. Khả năng phát triển tri thức mới và cách tư duy phong phú hoàn toàn biến mất.

Linh động hơn nữa

Sự vật hiện tượng biến đổi không ngừng. Thế giới liên tục thay đổi, và sự thay đổi được gia tốc theo thời gian. Sinh viên được đào tạo cho những ngành thậm chí vẫn còn chưa xuất hiện. Vậy chúng ta xử trí thế nào? Cách duy nhất là linh động hơn, và tự thân vận động để hình thành thói quen đặt câu hỏi không ngừng. Để làm được điều đó, người học không nên gắn chặt vào bản thân một kiến thức cụ thể nào đó, mà phải học cách thu thập, phân tích, phê phán và sử dụng các nguồn tư liệu khác nhau. Những điều mà chúng ta học ở giảng đường, có thể đã trở thành lỗi thời trước khi tốt nghiệp. Vậy thì tại sao lại vùi đầu vào học thuộc những thứ đó? Điều chúng ta cần học là cách học, cách tìm kiếm tri thức thông qua thư viện, mạng internet và cách đặt những câu hỏi đúng. Và sau cùng là cách liên kết các ý tưởng với nhau để hình thành những ý tưởng mới.

Phê phán hơn nữa

Trong giáo dục đại học, phê phán không có nghĩa là phê bình kiến thức của giảng viên. Phê phán thực chất là đặt câu hỏi, thảo luận, nhìn vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, suy nghĩ bằng nhiều cách khác nhau. Văn hóa Việt không khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi hay nghi ngờ tính đúng đắn của giáo trình. Nhưng như chúng tôi đã nói, phát triển tư duy phê phán là bước đầu tiên để cải tiến chất lượng giáo dục, và mỗi chúng ta cần phải trình bày, trao đổi và thảo luận nhằm tìm kiếm những ý tưởng mới, phong phú đa dạng.

Sáng tạo hơn nữa

Trong nền kinh tế tri thức, vốn không phải là yếu tố quan trọng nhất, mà là những ý tưởng mới, phát minhvà sự sáng tạo. Ý tưởng mới taọ ra công nghệ, cách thức tổ chức và làm việc mới. Cùng với tư duy phê phán và tư duy độc lập, tư duy sáng tạo cần được nhấn mạnh như một trong những mục tiêu tối quan trọng của giáo dục đại học. Nếu không có những điều này, sinh viên tốt nghiệp ra trường sẽ không thể góp phần vào cuộc chiến chống đói nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống và xây dựng Việt Nam thành một nước giàu mạnh.

Làm việc theo nhóm

Ngày nay hầu như không có công việc nào mà có thể thực hiện chỉ bởi một người. Trong mỗi công sở, cơ quan, mọi người đều phải làm việc cùng nhau trong một tập thể gắn kết. Do đó, làm việc theo nhóm là cách duy nhất để đạt được thành tựu đáng kể. Cách làm việc theo nhóm sẽ liên kết tất cả những điều đã thảo luận ở bên trên lại với nhau. Mỗi người qua đó tạo sự thành công không chỉ cho mình mà còn cho những người khác cùng nhóm. Chúng ta thất bại, thường thì không phải là do thiếu người giỏi, mà vì những người giỏi không biết cách làm việc hiệu quả cùng nhau. Tuy nhiên, làm việc theo nhóm chỉ có thể thành công khi mọi người cởi mở, tôn trọng ý kiến và cách suy nghĩ của người khác.

Giao tiếp hiệu quả

Giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng nhất trong xã hội tri thức. Giao tiếp hiệu quả cho phép các ý tưởng mới, tri thức và giải pháp lưu thông để tạo ra các giá trị mới. Giao tiếp cũng là yếu tố sống còn để đảm bảo làm việc theo nhóm được thành công. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, rất nhiều khó khăn và thất bại xảy đến có nguyên nhân từ sự giao tiếp kém hiệu quả chứ không phải sự thiếu vốn đầu tư hoặc tri thức.

Chuyên nghiệp

Những thói quen hình thành từ nền văn minh nông nghiệp đã ngăn cản chúng ta phối hợp và làm việc quả, mà thể hiện rõ nhất là thói quen suy nghĩ và làm việc nghiệp dư như: không có kế hoạch rõ ràng, làm việc và chơi cùng lúc, thích đối phó, v.v. Điều này trái ngược hẳn với phong cách chuyên nghiệp: con đường duy nhất để thành công trong sự cạnh tranh toàn cầu; tạo ra những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao mà thông qua đó, xã hội sẽ ngày càng phát triển và vị thế của đất nước vì thế sẽ được nâng lên. Nhưng phong cách chuyên nghiệp không phải là món quà trời cho. Đó là kết quả của quá trình đào tạo không ngừng, đòi hỏi sự chú ý của sinh viên trong từng hoạt động. Điều này quả thật không dễ, nhất với những người xuất phát từ đất nước có nền văn minh nông nghiệp như Việt Nam. Nhưng nó hoàn toàn có thể đạt được. Chuyên nghiệp là cách duy nhất đảm bảo mọi kế hoạch và hành động có thể thành công.

Đó là những điều mà chúng tôi muốn chia sẻ với bạn. Chúng tôi rất vui nếu bạn đã biết những điều này. Nếu chưa, bạn hãy thử (hoàn toàn miễn phí), và suy ngẫm một chút về nó xem sao. Chúng có thể biến bạn thành một người khác hẳn, và mang đến cho bạn một thế giới khác, thú vị.

Nguyên bản tiếng Anh xin đọc tại blog Giáp Văn: There is a different world.